Thứ Ba, 3 tháng 3, 2020

CÁCH XƯNG HÔ NGOÀI GIA TỘC CỦA NGƯỜI XƯA


CÁCH XƯNG HÔ NGOÀI GIA TỘC CỦA NGƯỜI XƯA




Kinh Hấp Lý Thừa Thái Thánh Nhân Anh
Minh Nghệ Thuận An
KINH Vương Chánh Khí đã lưu hình
HẤP Từ Thiên Địa đã xuất Kinh
LÝ Hoàng Hạo Thiên Ta Tôn kính
THỪA Thiên Một Chỉ Xuất Vạn Binh…
THÁI Tông Triều Trần thủy Tổ thông
THÁNH Nhân xuất thế sánh đại đồng
NHÂN Tông Di Chiếu quyền chỉ thống
ANH hùng Dân Tộc Vũ Trụ thông…
MINH Vương xuất thế Trần An Tông
NGHỆ Thiên Đạo Tổ quyết thống Rồng
THUẬN Thiên Thông Địa quyền nhất thống

AN Trần Tông Tổ Di Lạc Thông…
Thiên Long Ủy Thiên Kiếm

1. TRONG HOÀNG CUNG
- Cha vua (người cha chưa từng làm vua) : Quốc lão
- Cha vua (người cha đã từng làm vua rồi truyền ngôi cho con) : Thái thượng hoàng 
- Mẹ vua (chồng chưa từng làm vua) : Quốc mẫu
- Mẹ vua (chồng đã từng làm vua) : Thái hậu
- Anh trai vua : Hoàng huynh
- Chị gái vua : Hoàng tỷ
- Vua : Hoàng thượng
- Vua của đế quốc (thống trị các nước chư hầu) : Hoàng đế
- Em trai vua : Hoàng đệ
- Em gái vua : Hoàng muội
- Bác vua : Hoàng bá
- Chú vua : Hoàng thúc
- Vợ vua : Hoàng hậu/Hoàng hậu nương nương
- Cậu vua : Quốc cữu
- Cha vợ vua : Quốc trượng
- Con trai vua : Hoàng tử
- Con trai vua (người được chỉ định sẽ lên ngôi) : Đông cung thái tử/Thái tử
- Vợ hoàng tử : Hoàng túc
- Vợ Đông cung thái tử : Hoàng phi
- Con gái vua : Công chúa
- Con rể vua : Phò mã
- Con trai trưởng vua chư hầu : Thế tử
- Con gái vua chư hầu : Quận chúa
- Chồng quận chúa : Quận mã
- Vua tự xưng :
+ quả nhân: dùng cho tước nào cũng được.
+ trẫm: chỉ cho Hoàng đế/Vương.
+ cô gia: chỉ dùng cho Vương trở xuống.
- Vua gọi các quần thần : chư khanh, chúng khanh
- Vua gọi cận thần (được sủng ái) : ái khanh
- Vua gọi vợ (được sủng ái) : ái phi
- Vua gọi vua chư hầu : hiền hầu
- Vua, hoàng hậu gọi con (khi còn nhỏ) : hoàng nhi
- Các con tự xưng với vua cha: nhi thần
- Các con gọi vua cha: phụ hoàng
- Các con vua gọi mẹ: mẫu hậu
- Các quan tâu vua : bệ hạ, thánh thượng
- Các thê thiếp (bao gồm cả vợ) khi nói chuyện với vua xưng là : thần thiếp
- Hoàng thái hậu nói chuyện với các quan xưng là : ai gia
- Các quan tự xưng khi nói chuyện với vua : hạ thần
- Các quan tự xưng khi nói chuyện với quan to hơn (hơn phẩm hàm) : hạ quan
- Các quan tự xưng với dân thường: bản quan
- Dân thường gọi quan: đại nhân
- Dân thường khi nói chuyện với quan xưng là : thảo dân
- Người làm các việc vặt ở cửa quan như chạy giấy, dọn dẹp, đưa thư, v.v… : nha dịch/nha lại/sai nha 
- Con trai nhà quyền quý thì gọi là : công tử
- Con gái nhà quyền quý thì gọi là : tiểu thư
- Đầy tớ trong các gia đình quyền quý gọi ông chủ là : lão gia
- Đầy tớ trong các gia đình quyền quý gọi bà chủ là : phu nhân
- Đầy tớ trong các gia đình quyền quý gọi con trai chủ là : thiếu gia
- Đầy tớ trong các gia đình quyền quý tự xưng là (khi nói chuyện với bề trên): tiểu nhân 
- Đứa con trai nhỏ theo hầu những người quyền quý thời phong kiến : tiểu đồng
- Các quan thái giám khi nói chuyện với vua, hoàng hậu xưng là : nô tài
- Cung nữ chuyên phục dịch xưng là : nô tì
- Ngoài ra, đối với các quan còn có kiểu thêm họ vào trước chức tước, thành tên gọi. Ví dụ : Quách công công, Lý tổng quản, Lưu hoàng thúc… 

2. THẦY TRÒ – HỌC HÀNH
Thầy dạy học (tiếng xưng hô tỏ ý tôn kính hoặc thân mật): lão sư
老師.
Người nữ sư phụ trách dạy dỗ con nhà quý tộc (ngày xưa): phó mẫu
傅母.
Người đàn bà nuôi dạy con cái thay cho người khác: phó mẫu
傅母, bảo mỗ 保姆.
Em cùng tổ: đường đệ
堂弟.
Môn đồ, học trò: đệ tử
弟子, đồ đệ 徒弟. môn sanh 門生, học sanh 學生.
Con em nhà dòng dõi học hành đỗ đạt: thư hương môn đệ
書香門第.
Học giả hoặc quan viên tự xưng (khiêm từ): học sinh
學生.
Tiếng gọi sư phụ của người khác: lệnh sư
令師.
Tiếng gọi anh hoặc sư huynh của sư phụ: sư bá
師伯.
Tiếng gọi em trai hoặc sư đệ của sư phụ: sư thúc
師叔.
Tiếng gọi học trò giỏi: cao đệ
高弟, 高徒 cao đồ.
Tiếng mĩ xưng để gọi con em, đồ đệ người khác: cao túc
高足 hay thượng túc 上足.
Tiếng học trò kính xưng với thầy: ân sư
恩師.
Học trò xưng thầy đã chết: tiên sư
先師.
Người đầu tiên sáng lập ra một nghề, coi như ông tổ của nghề đó gọi là: tiên sư
先師. 
Bậc thầy nổi tiếng: danh sư
名師.
Bậc thầy tài đức: lương sư
良師.
Ông thầy học: tiên sinh
先生.Anh (học cùng thầy): sư huynh 師兄.
Chị (học cùng thầy): sư tỷ
師妣.
Em trai (học cùng thầy): sư đệ
師弟.
Em gái (học cùng thầy): sư muội
師妹.
3. NAM NỮ
Đàn ông nói chung: sĩ phu
士夫, trượng phu 丈夫. 
Người đàn ông trẻ tuổi: sĩ phu
士夫 .
Người đàn ông thông dâm với người khác: gian phu
奸夫, còn viết là 姦夫.
Đàn bà, con gái: nhi nữ
兒女.
Đàn bà góa: cô sương
孤孀.
Con côi và đàn bà góa: cô quả
孤寡.
Người đàn bà có chồng đánh trận nơi xa: chinh phụ
征婦.
Người đàn bà nuôi trẻ: nhũ mỗ
乳姆.
Nữ chủ nhân: chủ phụ
主婦.
Tiếng tôn xưng phụ nữ đã có chồng: phu nhân
夫人.
Tiếng gọi chung đàn bà con gái: cô
姑.
Tục gọi con gái chưa chồng là: cô
姑.
Tiếng tự xưng hoặc xưng gọi người nữ khác: cô
姑.
Tiếng gọi tôn trọng dành cho phụ nữ: thái cô
太家.
Tiếng gọi người nữ: cô nương
姑娘.
Cô nương nhà (tiếng xưng gọi người khác): cô nương gia
姑娘家.
Tiếng tôn xưng phụ nữ: đại gia
大家.
Từ tôn xưng phụ nữ đã có chồng và ngang tuổi với mẹ: đại thẩm
大嬸.
Tiếng xưng hô đối với phụ nữ ngang hàng hoặc có tuổi gần bằng tuổi cha mình: chư mẫu
諸母. 

4. TRẺ EM
Trẻ em: nhi đồng
兒童.
Trẻ con nhỏ dại: cúc tử
鞠子. 
Bé trai, bé gái: anh nhi
嬰兒.
Trẻ sơ sinh: anh nhi
嬰兒. 
Trẻ con: hài tử
孩子, nhi tử 兒子, hài nhi 孩兒.
Trẻ mất cha mẹ, không ai che chở: cô lộ
孤露.
Trẻ mồ côi (mất cha hoặc mất cả cha và mẹ): cô nhi
孤兒.
Đứa bé: tiểu hài nhi
小孩兒.
Bé gái: nữ hài nhi
女孩兒.
Bé trai: nam hài nhi
男孩兒.
Lũ trẻ, bọn trẻ (tiếng bậc tôn trưởng xưng hô với hậu bối): nhi tào
兒曹.
Chú bé nhà (tiếng xưng gọi người khác): tiểu hài tử gia
小孩子家.

5. THEO TUỔI TÁC – CẤP BẬC
Tiếng tôn xưng người đàn ông lớn tuổi: lão trượng
老丈 (cụ già), lão tẩu 老叟 (cụ già), trượng nhân 丈人 (ông già). 
Ông cụ: lão công công
老公公.
Ông nọ (phiếm chỉ - tiếng gọi đàn ông lớn tuổi): mỗ ông
某翁.
Bậc trên mình mà có tuổi gọi là: trưởng lão
長老.
Người già không con cháu để nương tựa: cô lão
孤老.
Anh (tiếng gọi đàn ông lớn tuổi hơn mình): huynh
兄.
Anh (tiếng gọi thân mật): hiền huynh
賢兄.
Anh (tiếng tôn xưng người nam cùng lứa): ca
哥.
Anh kết nghĩa, anh nuôi: nghĩa huynh
義兄.
Tiếng xưng hô của người nhiều tuổi (trưởng bối
長輩) đối với người ít tuổi (vãn bối 晚輩): hài nhi 孩兒. 
Em (tiếng gọi thân mật): hiền đệ
賢弟.
Em (khiêm từ, người nữ tự xưng với những người ngang hàng): muội
妹.
Con trai, đàn ông trong thân thích, cùng lứa mà nhỏ tuổi hơn mình gọi là: đệ
弟.
Tiếng tôn xưng người đàn ông đứng tuổi hoặc hơn tuổi cha mình: lão bá
老伯.
Tiếng gọi người nhỏ tuổi: tiểu tử
小子.
Phiếm chỉ người tuổi nhỏ: đệ tử
弟子.
Bậc trưởng bối gọi người sinh sau là: nhi
兒.
Từ chỉ người vị thành niên: hài tử
孩子 
Tiếng tôn xưng người trên: các hạ
閣下. Bậc dưới đối với bậc trên hoặc những người ngang vai kính xưng với nhau là: túc hạ 足下. 
 
6. BẠN BÈ
Bạn cũ: cựu hữu
舊友, còn gọi là cựu giao 舊交.
Bạn bè cũ: cố cựu
故舊, còn gọi là cố giao 故交, cố tri 故知.
Bạn bè cùng chí hướng: chấp hữu
執友.
Bạn bè kết làm anh em: khế huynh đệ
契兄弟.
Tiếng tôn xưng để gọi anh em bạn: nhân huynh
仁兄.
Anh (tiếng kính xưng giữa các bạn hữu): huynh
兄.
Anh bạn nhân đức (tiếng kính xưng giữa các bạn hữu): nhân huynh
仁兄.
Anh (tiếng bạn bè tôn xưng với nhau): các hạ
閣下, huynh đài 兄臺.
Anh/bạn: các hạ
閣下,
Kẻ đàn em này (tiếng tự xưng khiêm tốn với bạn bè): ngu đệ
愚弟.
Em (tiếng dùng để gọi bạn bè nhỏ tuổi hơn mình): hiền đệ
賢弟.
Tiếng để gọi cha của bạn bè hoặc bạn đồng học: bá phụ
伯父.
Chị (tiếng kính xưng đối với vợ của bạn hoặc đối với phụ nữ nói chung): tẩu
嫂.
Nhà chị (để gọi vợ bạn): tẩu phu nhân
嫂夫人.

7. THEO TÔN GIÁO 
Một đoàn thể đệ tử Phật gọi là: tăng-già
僧伽 (theo luật định bốn vị sư trở lên mới gọi là Tăng già). 
Bậc tu hành theo Phật giáo có đạo hạnh lớn: cao tăng
高僧.
Nhà sư: nạp
衲.
Tiếng nhà sư già tự xưng: lão nạp
老衲.
Tiếng nhà sư nam tự xưng (khiêm từ): bần tăng
貧僧.
Tiếng đạo sĩ hoặc nhà sư nam tự xưng (khiêm từ): bần đạo
貧道.
Tiếng nữ đạo sĩ tự xưng: bần đạo
貧道.
Tiếng ni cô tự xưng (khiêm từ): bần ni
貧尼. 
Phụ nữ xuất gia tu hành: ni cô
尼姑, đạo cô 道姑.
Tiếng tôn xưng nhà tu hành, đạo sĩ: pháp sư
法師, thiền sư 禪師.
Tiếng tôn xưng hòa thượng, cao tăng: đại sư
大師. Tiếng tôn xưng đạo sĩ: chân nhân 真人. 
Tiếng hòa thượng, đạo sĩ tự xưng: đệ tử
弟子.

8. NHỮNG TỪ KHÁC
Bà con bên ngoại: nhân thân
姻親.
Bà con bên nội (cùng một họ): nội thân
內親.
Bậc học giả, nhà nghệ thuật có tài lớn: đại sư
大師.
Cha mẹ anh em vợ chồng nói chung: lục thân
六親. 
Chàng tuổi trẻ (mỹ xưng dành cho người nam): thiếu niên lang
少年郎.
Con em nhà lương thiện: lương gia tử đệ
良家子弟.
Con trai vua chư hầu, nối ngôi cha: thế tử
世子.
Cô phụ dâu: bạn nương
伴娘, còn gọi là nữ tân tướng 女儐相. 
Đầy tớ gọi chủ nhân là: đại gia
大家.
Đầy tớ: tư dưỡng
廝養.
Ngày xưa nô bộc gọi chủ là: gia trưởng
家長.
Ngày xưa, thiên tử đối với vua chư hầu cùng họ gọi là: bá phụ
伯父.
Người có học thức: sĩ phu
士夫 .
Người có học, học giả: nho sanh
儒生. 
Người đứng đầu trong nhà: gia trưởng
家長.
Người lớn trẻ nhỏ trong nhà (từ gọi chung): nhất gia lão tiểu
一家老小.
Người mang ơn xưng với người làm ơn: ân nhi
恩兒.
Người phụ rễ:
伴郎 bạn lang, còn gọi là nam tân tướng 男儐相.
Người thân cận trong nhà, thường chỉ người cùng dòng họ: nội nhân
內人. 
Người theo hầu hoặc thị giả gọi là: chấp dịch
執役.
Thiếp của thiên tử: phu nhân
夫人.
Thiếu nữ nhỏ tuổi: diệu linh nữ lang
妙齡女郎.
Tiếng gọi cha của người đang trò chuyện với mình: lệnh tôn
令尊.
Tiếng gọi con nhà quý tộc: công tử
公子.
Tiếng gọi người khác với ý kính trọng (xã giao): tiên sinh
先生.
Tiếng gọi người tài giỏi về một bộ môn: thi bá
詩伯 (nhà thơ lớn), họa bá 畫伯 (họa sĩ đại tài). 
Tiếng gọi người thân gần: cận thân
近親.
Tiếng kính xưng của nô bộc đối với bà chủ: nương
娘.
Tiếng tôn xưng thế gia tử đệ trong văn chương cổ (tiểu thuyết, hí khúc): công tử
公子. 
Tiếng tôn xưng đàn bà hoặc người đã có chồng: đại nương
大娘 (bà), di nương 姨娘 (dì). Tiếng tôn xưng hoàng hậu, quý phi và phụ nữ quí tộc: nương nương 娘娘 (lệnh bà). 
Tiếng tôn xưng vua: bệ hạ
陛下.
Tiếng tự xưng của vị quan với vua: hạ thần
下臣.
Tiếng tự xưng đối với trưởng bối: học vãn
學晚 (kẻ học muộn này), vãn sinh 晚生 (kẻ sinh sau này). 
Tiếng tự xưng khiêm nhường: bỉ phu
鄙夫,bỉ nhân 鄙人.
Tiếng xưng hô của cận thần hoặc hậu phi đối với hoàng đế: đại gia
大家.
Tiếng xưng hô của đầy tớ đối với chủ: lang
郎.
Tớ gái: nghĩa nô
義奴. 
Tớ trai: nghĩa bộc
義僕. 
Tôi (khiêm từ): tẩu
走. 
Tôi (khiêm từ): tiểu sinh
小 生, bỉ nhân 鄙人, bỉ phu 鄙夫. 
Tôi (người ở chức vị thấp tự xưng, về sau dùng làm tiếng tự xưng khiêm nhường): tại hạ
在下. 
Tôi (tiếng người nữ tự xưng): tại hạ
在下, tiểu nữ 小女, bổn cô nương 本姑
Tôi (tiếng tự xưng của người nữ đã có chồng): bổn phu nhân
本夫人. 
Tôi (tiếng tự xưng của người nữ lớn tuổi): lão nương
老娘.
Tôi đây (tiếng tự xưng): tự gia
自家.
Tôi: mỗ
某, lão phu 老夫, bổn nhân 本人.
Từ phiếm chỉ người tuổi nhỏ: đệ tử
弟子.
Từ phiếm chỉ thê thiếp ngày xưa: nội nhân
內人. 
Văn nhân: sĩ phu
士夫 .
Vợ ông chủ: lão bản nương
老闆娘.
Vợ của chư hầu: phu nhân
夫人.
Vua chư hầu tự xưng (khiêm từ): cô quả
孤寡.




Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2020

Di Lạc Vương Tôn Phật thuyết kinh dạy bảo các đệ tử




Mô Phật Đạo Tổ Từ Bi giáng kiết tường Phật Bồ Tát ma ha tát.
Thiên Địa Nhơn hòa tại Thiên Cấm Sơn Ngài
DI LẠC VƯƠNG TÔN PHẬT THUYẾT DẠY BẢO CÁC ĐỆ TỬ RẰNG:
Chư Vị hãy lắng nghe đây:
Di Lạc Vương Tôn Phật thuyết kinh dạy bảo các đệ tử rằng:
Hãy cẩn thận đối với tâm niệm của mình, không nên ưa thích sáu dục, dứt bỏ các thứ cấu nhiễm nơi trần, lấy đắc quả vị Phật làm đầu, bên trong thanh tịnh, bên ngoài thì hết lòng hiếu kính, dùng bốn Tâm vô lượng để phụng dưỡng bậc sinh thành. Sáng sớm vào nơi tôn Tam Bảo làm lễ đọc kinh sám hối, buổi chiều đọc tụng, suy nghĩ ý nghĩa nơi diệu lý của kinh, dùng giới trọng của chư Phật để đối trị tâm bệnh cấu uế, nghiêm trú ở chỗ vắng lặng, tu thiền định, quán hơi thở ngược dòng đến nguồn gốc để cầu Đạo giải thoát, mạng sống như ánh chớp, chỉ trong chóc lát liền diệt, hàng ngày thường trai giới, nên cẩn thận giữ gìn thân, miệng, ý. Ngày trai giới thì chư Thiên theo dõi việc thiện ác của con người.
        Ở trên núi Tu-di, tức là cõi trời Đao-lợi thứ hai, vua cõi trời ấy là Thích Đề-hoàn Nhân, phước đức rộng lớn, cai quản bốn Thiên vương. Tứ Thiên vương ấy tức là bốn vị vua giữ bốn phương. Mỗi người canh giữ một phương, thường lấy ngày mồng tám trong mỗi tháng sai sứ giả đi tra xét thiên hạ, theo dõi quan sát tâm niệm, lời nói, hành động thiện ác của muôn dân, của Đế Thích, của thần dân, của rồng, của quỷ, và các loài côn trùng nhỏ bé.
        Ngày mười bốn, thái tử xuống.
        Ngày mười lăm, Tứ Thiên vương xuống.
        Ngày hai mươi ba, sai sứ giả xuống.
        Ngày hai mươi chín, thái tử lại xuống.
        Ngày ba mươi, bốn Thiên vương đích thân xuống. Mặt trời, mặt trăng, năm sao lớn, hai mươi tám sao nhỏ, các chư Thiên trong đó đều theo xuống.
        Bốn Thiên vương ra lệnh: Thường xuyên theo dõi việc làm tốt xấu của chúng sinh. Nếu ở những ngày này mà quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, tâm thanh tịnh, giữ gìn trai giới, bố thí cho người nghèo, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, đem kinh này thuyết giảng rộng, giáo hóa cho người tối tăm, hiếu thuận cha mẹ, phụng sự Tam bảo, cung kính thọ nhận pháp, thực hành bốn Tâm vô lượng, Từ bi cứu giúp các loài, phân biệt đầy đủ để thưa lại với Đế Thích. Nếu tu tập nhiều phước đức, tinh tấn không biếng nhác thì Đế Thích và ba mươi hai vị quan phụ tá thảy đều hoan hỷ.
        Đế Thích ra lệnh tăng thêm tuổi thọ cho họ, sai các vị thiện thần ủng hộ những người đó, tùy theo những người ấy giữ giới nhiều hay ít. Nếu người giữ một giới thì có năm vị thần hộ trì. Người trì năm giới thì có hai mươi lăm vị thần cùng ủng hộ nhà cửa, các tai ương, âm mưu tà vạy đều bị tiêu diệt, ban đêm không có ác mộng, hàng quan lại hung bạo, giặc cướp, nạn khổ về nước, lửa, hoàn toàn không xâm hại, các thứ tai họa, quái ác được diệt trừ.
        Nhờ bốn Tâm vô lượng, giữ giới, hàng ngày thọ trai, giống như nước lớn diệt trừ lửa nhỏ, không có gì mà không diệt được sao? Lúc lâm chung thần thức của họ được đón rước sinh lên cõi trời, nơi cung điện bảy báu, mọi nguyện cầu đều đạt được. Nếu có người không cứu giúp mạng sống chúng sinh, làm ô trược gia đình và xã hội, dùng chú thuật nguyền rủa, ganh ghét, giận dữ, ngu si, trái nghịch với Đạo, bất hiếu với bề trên, Khinh khi Phật, khinh khi Pháp, chê bai Tăng, luận bàn lẫn lộn việc thiện ác, người thực hành như vậy, Tứ Thiên vương tâu lại với Đế Thích, chư Thiên, khiến các vị ấy không vui. Các vị thiện thần không theo ủng hộ những hạng người ấy, liền khiến cho mặt trời, mặt trăng không còn ánh sáng, các tinh tú đều lặn mất, gió mưa trái thời, nhằm răn đời để sửa đổi tu tập, cần tẩy tâm, giữ gìn thanh tịnh, thành khẩn ăn năn đối với Tam Bảo, tu bốn Tâm vô lượng, phụng dưỡng cha mẹ, trung hiếu với vua, dùng tâm Từ ngăn cản mọi sự tranh chấp, thành thật không lừa dối, ngược lại những sai trái ở trước để tu tập, xả bỏ cấu uế, thành tựu Đạo thanh tịnh.
        Nếu có người cải bỏ tà hạnh, thành tựu Đạo chân chánh thì Đế Thích và Tứ Thiên vương đều hoan hỷ, mặt trăng mặt trời liền chiếu sáng, tinh tú thường xuất hiện, mưa gió hợp thời, khí độc tiêu hết, trời mưa xuống cam lộ, đất sinh ra dòng suối mát, lúa nước nhiều hương vị, ăn vào ít bệnh, sắc hoa rực rỡ, mạng sống lâu dài, đời đời xa lìa lao ngục, chết được sinh lên cõi trời, phước đức như sở nguyện, đi lại an nhiên, được mất luôn tự tại, thân có ánh sáng như mặt trời, ăn vào tự tiêu hóa, không có những lo lắng về sự dơ dáy, nơi thân, miệng trong sạch, thơm thơ. Mặt trời, mặt trăng, tinh tú tức là nhà cửa, cung điện của chư Thiên. Điện, đền đài bằng bảy báu hiện ra giữa hư không theo ý của mình. Khi tuổi thọ hết được sinh vào hàng vương tộc, dung mạo đẹp đẽ, người nhìn thấy đều ưa thích, được gặp Phật, gặp pháp, cùng sống chung với Thánh tăng, nhờ vào diệu lực tu tập không còn tội lỗi, chắc chắn đạt đến Niết-bàn, mỗi người thọ trì giới luật, làm tất cả  điều thiện để ngăn chặn được sáu trần và các dục, hàng ngày trai giới cũng đạt được như vậy.
        Vào thời Đức Phật Câu-lưu-tần, tuổi thọ của con người đến sáu vạn năm, tánh của họ thuần thiện, cứu giúp mọi người giống như nuôi dưỡng mình, bình đẳng không hai. Đức Phật ấy qua đời, chánh pháp suy kém, dân chúng hành động không chân chánh, dần dần làm ác, tuổi thọ của họ ngày càng giảm đi, chỉ còn trăm năm.
        Sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni nhập Niết-bàn, dân chúng trái với lời dạy của Ngài, không còn hiếu kính, mạng sống, tuổi thọ giảm bớt, thiện thần chẳng hộ trì, bệnh dịch quỷ ác thường hay xâm hại, các thứ tai họa xuất hiện khắp nơi, sống thì bị vào lao tù của phép nước, chết bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Nếu làm người chắc chắn bị nghèo cùng, sinh vào hàng hạ tiện. Thiện ác luôn gắn liền thân giống như năm thứ lúa thóc tùy theo chỗ gieo trồng mà thu hoạch được hạt quả. Cũng như ban đêm chép sách, lửa tắt chữ còn, thân chết, tên diệt, nhưng phước họa không hư mất.
        Các ông nên thận trọng, giữ gìn thân, miệng, ý, thực hành theo giới luật mới có thể đạt được Đạo. Ta nay thành tựu Đạo quả Phật chính là nhờ tích chứa các hạnh duyên lành mà đạt được.
        Các Chư Vị nghe kinh này đều rất hoan hỷ, cung kính đảnh lễ Di Lạc Vương Tôn Phật mà lui ra.