Thứ Năm, 9 tháng 5, 2019

NGHI THỨC CẦU AN (TRONG KHI TAI NẠN, RỦI RO, ĐAU ỐM)





NGHI THỨC CẦU AN
(TRONG KHI TAI NẠN, RỦI RO, ĐAU ỐM)
 1. DÂNG HƯƠNG
Giới hương, Định hương, dữ Huệ hương
Giải thoát, Giải thoát tri kiến hương
Quang minh vân đài biến pháp giới
Cúng dường Tam Bảo khắp mười phương. O

2. LỄ PHẬT
Kính lạy Phật từ bi cứu thế
Đem đạo lành phổ tế chúng sanh
Trần gian biết nẻo tu hành
Nhờ đèn trí huệ quang minh soi đường. O

3. LỄ PHÁP
Kính lạy Pháp là phương giải thoát
Gốc chơn truyền Y Bát từ xưa
Pháp tu chứng đắc kịp giờ
Độ người qua đến bến bờ bên kia. O

4. LỄ TĂNG
Kính lạy Tăng nghiêm trì giới luật
Hạnh Tăng vô nhất vật thanh bần
Tự mình giác ngộ lý chân
Giúp người giác ngộ chuyên cần công tu. O

5. KỈNH NGUYỆN
Nam-mô Bổn Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật. O
Bạch đức Thế Tôn !
Các con xin trì tụng phẩm kinh này,
Để cầu an cho… (Ông, bà… họ… tên… pháp danh… tuổi…)
Và tất cả chúng sanh trong mười phương
Kẻ âm được siêu, người dương thanh thới
Cùng nghiệp qua, nạn khỏi, tật bệnh tai ách tiêu trừ
Thiện căn tăng trưởng, phước huệ trang nghiêm
Sở nguyện tùy tâm, thành Vô thượng đạo
Xin ơn trên chư Phật chứng minh. O

6. KHAI KINH KỆ
Vòi vọi không trên pháp thẳm sâu
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
Con nay nghe đặng chuyên trì niệm
Nguyện giải Như Lai nghĩa nhiệm mầu. O

7. KINH CẦU AN
Các con thành kính nguyện lên
Cầu xin Tam Bảo ân trên chứng lòng
Từ bi nhỏ xuống phước hồng
Độ người tai nạn thoát vòng nghiệp vương,
Cùng người tật bệnh đau thương
Thảy đều hưởng thụ miên trường vĩnh an,
Những người chịu lắm tội oan
Lần tiêu túc trái bình an trở về,
Với người nghiệp chướng đê mê
Loạn tâm vọng tưởng tư bề đảo điên
Chóng tiêu dứt mối oan khiên
An tâm, định tánh mạnh liền như xưa,
Những người bệnh hoạn dây dưa
Nhờ ân Phật lực sớm trưa mạnh lành,
Khắp trong tất cả chúng sanh
Năm châu, bốn biển đắc thành bình an,
Người người tháo cổi dây oan
Tương thân, tương ái, kết đoàn giao liên
Sùng tu ngưỡng mộ Phật Tiên
Hướng về Tam Bảo huệ liền mở khai
Minh tâm kiến tánh Như Lai
Thoát vòng đau khổ ra ngoài trái oan,
Cầu xin Tam Bảo phước ban
Chứng lòng đệ tử cầu an đắc thành.
Nam-mô Cầu An Lạc Địa Bồ-tát. O (3 lần)

8. KINH CẦU NGUYỆN
Cầu Tam Bảo ơn trên tế độ
Cứu nhơn sanh tiêu khổ, diệt tai
Rộng truyền Chánh pháp Như Lai
Tỉnh người mê mộng đọa đày trần gian,
Đặng ra khỏi sáu đàng khổ bức
Liền bước lên chín bậc Liên đài,
Hộ người đạo đức tâm khai
Cúng dường, bố thí kết rày thiện duyên,
Nhờ đức Phật thiêng liêng huệ cố
Độ Cửu huyền Thất tổ siêu thăng,
Đương sanh lộc vị cao sang
Tai qua, nạn khỏi, phước tăng thọ trường,
Gia quyến đặng an khương vĩnh hạnh
Trồng cội lành đạo Thánh cần chuyên,
Thảy nương Bát-nhã từ thuyền
Giác đăng bỉ ngạn về miền Tây phương. O

9. KINH PHỔ NGUYỆN
Nay đệ tử lòng thành phát nguyện
Nhờ ơn trên Phật hiển oai linh
Độ cho tất cả chúng sanh
Năm châu, bốn biển thái bình an vui
Người người được thấm mùi đạo lý
Giữ gìn thân, tâm, trí trọn lành
Ăn chay, niệm Phật tu hành
Cải tà quy chánh, hiểu rành lý chơn
Một lòng gắng keo sơn trau sửa
Dứt sân si, tánh lửa, lòng phàm
Xa lìa tội ác gian tham
Kết duyên Tam Bảo quyết làm nghĩa nhân.
Nhờ lượng cả hồng ân Tam Bảo
Chứng lòng thành hiếu đạo các con
Cầu xin cha mẹ sống còn
Tăng long tuổi thọ hưởng tròn phước duyên,
Và cầu nguyện Cửu huyền Thất tổ
Sớm vãng sanh Tịnh độ Tây phương
Hưởng an cõi thọ miên trường
Thoát vòng sanh tử trần vương khổ sầu.
Con thành kính đê đầu lễ bái
Phật từ bi, bác ái độ tha
Âm siêu, dương thới chóng qua
Cầu xin Tam Bảo chứng mà lòng con. O

10. KINH CẦU PHƯỚC, CẦU LỘC
Cầu Tam Bảo ban ân nhỏ phước
Cho các con hưởng được duyên lành
Làm ra mọi sự đắc thành
Gặp nhiều may mắn sẵn dành ban cho,
Con cháu biết giữ lo gia nghiệp
Lo làm ăn bặt thiệp với đời
Một lòng hiếu thảo không dời
Cũng nhờ phước lộc Phật Trời rưới ban,
Trong bửu quyến bình an vạn sự
Biết nghiêm trì gìn giữ giới răn
Nương về theo Phật, Pháp, Tăng
Là phương diệu dược diệt ngăn lòng tà,
Cả lớn nhỏ trên hòa dưới thuận
Vâng theo lời giáo huấn mẹ cha
Kính tôn hiếu thảo ông bà
Giữ tròn bổn phận tại gia tu hành,
Bền tâm trí làm lành lánh dữ
Nguyện ơn trên Phật ngự chứng minh
Cầu cho tất cả chúng sanh
Năm châu, bốn biển thái bình yên vui
Người người được thấm mùi vị đạo
Gằng tu hành tích tạo phước duyên,
Cầu trên Phật Tổ chứng miên
Ban ân nhỏ phước xuống liền các con.
Lời cầu khẩn mãi còn ghi nhớ
Nhờ chư thiên gia trợ hộ trì
Đồng tâm phát nguyện hôm ni
Mong trên Tam Bảo chứng tri lòng thành. O

11. KINH CẦU THỌ
Kính lạy Phật, Pháp, Tăng tam bảo
Chứng lòng thành hiếu thảo các con
Cầu xin nội ngoại sống còn
Bá niên tuổi thọ vẹn tròn phước duyên,
Cùng cha mẹ hiện tiền sức khỏe
Đặng bình an vui vẻ muôn phần
Đường chơn nẻo đạo bước gần
Trau dồi hạnh đức chuyên cần tu tâm,
Cầu tất cả tình thâm quyến thuộc
Nội ngoại đồng hưởng được bình yên,
Bà con lối xóm láng giềng
Tai qua nạn khỏi hiện tiền sống chung
Thêm phước đức tăng sùng đạo hạnh
Vẫn bình an khỏe mạnh trọn đời
Thân tâm nhàn lạc thảnh thơi
Thoát ngoài sự thế đầy vơi tội tình…
Cầu Phật lực quang minh phóng chiếu
Độ chúng sanh thấu hiểu lý chân
Nương theo chánh đạo tu lần
Hầu mong thoát khỏi những phần tử sanh.
Nay đệ tử lòng thành khấn nguyện
Nhờ ơn trên Phật hiển oai linh
Độ cho tất cả chúng sanh
Nương về chánh đạo sửa mình tu tâm. O

12. KỆ THÁI BÌNH
Gieo mình trước tòa liên đài
Chí thành đảo cáo bi ai nguyện cầu
Lòng vì khắp hết năm châu
Thay cho thiên hạ hoàn cầu nhân dân
Nguyện mười phương Phật ai lân
Chín tầng tạo hóa Thánh Thần oai linh
Đoái thương ngũ trược chúng sanh
Cõi trần kiếp sát đao binh tai nàn,
Cùng người ngỗ nghịch, bạo tàn
Trái ngang phép nhiệm gây đàng chiến tranh
Mưu sâu, chước độc sẵn dành
Phá tan bờ cõi cuộc thành thiên công
Giết người máu chảy thành sông
Thây phơi trắng biển, xương chồng khắp nơi
Uế oan hơi mịt đất trời
Thác đà tàn tệ, sống thời chẳng an
Đến đâu cửa nát nhà tan
Đất bằng thành thị, gò hoang lâu đài
Lẫy lừng đấu trí, đua tài
Của đời chẳng tiếc, đồng loài chẳng thương
Làm cho thiên hạ nhiễu nhương
Đón ngăn bốn biển tuyệt đường sanh nhai
Dân lành giết hại hoài hoài
Thây che mặt biển, nước phai màu hồng
Xiết bao tai nạn chập chồng
Dưới sông đã hại, trên đồng cũng âu
Họa gieo khắp hết hoàn cầu
Tiếng than như sấm, hơi sầu như mây
Oan thay cho đến cỏ cây
Thảy đều thọ hại chầy ngày thảm thương…
Thấy đời tai nạn phi thường
Phút liền động niệm cảm thương cho đời,
Lòng thành chúc tụng hôm nay
Phần hương đảo cáo nguyện mười điều ra:
MỘT là nguyện đức DI-ĐÀ    O
Cầu cho bá tánh trẻ, già khắp nơi
Tâm lành sáng suốt kịp thời
Nhà nhà lạc nghiệp, nơi nơi thái hòa.
HAI là nguyện đức THÍCH-CA    O
Trở đời ly loạn hóa ra thái bình
Mở mang vận thái văn minh
Vật, người thơ thới, dân tình trung lương.
BA là nguyện CHUẨN ĐỀ VƯƠNG    O
Thần thông dẹp hết bốn phương chiến trường
Độ người ngỗ nghịch bạo cường
Bỏ tà về chánh một đường thiện tâm.
BỐN là nguyện đức QUÁN ÂM    O
Độ người oán trọng thù thâm thuận hòa
Độ người tai nạn xảy qua
Cùng người tật bệnh đều là an thuyên.
NĂM là nguyện đức PHỔ HIỀN    O
Độ người chơn chánh giữ quyền an dân
Bốn phương tương ái tương thân
Đồng tuân phép nước thảo thân kính nhường.
SÁU là nguyện ĐỊA TẠNG VƯƠNG    O
Độ người xiêu lạc bốn phương đặng về
Cùng là người thác tư bề
Hồn linh độ hết đồng về Tây phương.
BẢY là nguyện TỨ THIÊN VƯƠNG    O
Thái bình đem lại như Đường, Nghiêu xưa
Bốn mùa thuận tiết gió mưa
Nhơn phong vật thụ, trẻ già hân hoan.
TÁM là nguyện với TAM QUAN    O
Khiến người đạo tặc hung hoang về lành
Bốn phương hải yến, hà thanh
Nhà sanh con thảo, nước sanh tôi hiền.
CHÍN là nguyện đức HOÀNG THIÊN    O
Hộ cho thế giới dứt liền đao binh
Á, Âu như đệ như huynh
Tương thân tương ái, hòa bình giao liên.
MƯỜI là nguyện các THÁNH HIỀN    O
Cầm cân tội phước phân minh chỉ đàng
Tiêu trừ tất cả tai nàn
Dứt cơn khói lửa, hộ an dân lành.
Mười điều phát nguyện viên thành
Cầu cho bá tánh tu hành thiện duyên,
Tâm thành đảo cáo chư Thiên
Cầu xin giáng phước xuống miền Việt Nam
Tiêu trừ tất cả tánh phàm
Quan dân mau bỏ xan tham, cải tà
Bốn mùa mưa thuận gió hòa
Dân an quốc thới, trẻ già khương ninh. O

13. DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH – PHẨM PHỔ MÔN
( DIỄN KỆ )

Có Bồ-tát là Vô Tận Ý
Từ chỗ ngồi đứng dậy khoan thai
Kính thành trịch áo bày vai
Hướng về đức Phật chắp tay bạch rằng:
“ Bạch đức Phật! Quán Âm Bồ-tát
Nhơn duyên gì tên đặt Quán Âm?”
Phật rằng: “Này gã thiện nam
Nếu như muôn ức, trăm ngàn chúng sanh
Bị khổ não điêu linh tai ách
Nghe Quán Âm Bồ-tát oai linh
Một lòng khẩn thiết xưng danh
Thời Bồ-tát quán âm thanh cứu nàn.
Hoặc có kẻ thân lâm hỏa nạn
Niệm Quán Âm lửa chẳng đốt thiêu,
Oai thần Bồ-tát cao siêu
Chúng sanh xưng niệm thoát điều nguy nan.
Hoặc có kẻ thân lâm thủy nạn
Niệm Quán Âm chỗ cạn gặp liền,
Oai thần Bồ-tát diệu huyền
Chúng sanh xưng niệm thoát miền nguy nan.
Hoặc sanh chúng trăm ngàn muôn ức
Cầu bạc, vàng, bảo vật, trân châu
Xa cừ, mã não, san hô
Lưu ly, hổ phách, lộ đồ gian nguy
Vào biển cả gặp khi gió bạt
Thuyền tấp bờ La-sát nguy nan
Một người xưng niệm Quán Âm
Mọi người nương cậy oai thần cứu an.
Hoặc có kẻ thân tâm đao nạn
Niệm Quán Âm gãy đoạn gươm đao,
Oai thần Bồ-tát nhiệm mầu
Chúng sanh xưng niệm nạn nào cũng qua.
Hoặc có quỷ Dạ-xoa, La-sát
Khắp tam thiên toan bắt chúng nhân,
Nghe xưng danh hiệu Quán Thế Âm
Mắt không dám ngó, huống tầm hại ai.
Hoặc kẻ tội, hoặc người vô tội
Bị gông cùm ràng trói tấm thân
Xưng danh Bồ-tát Quán Âm
Gông cùm rời rã, tấm thân nhẹ nhàng.
Hoặc thương khách trên đàng hiểm trở
Dắt gia nhân chuyên chở báu trân
Đầy đàng oán tặc, ác nhân
Một người trong bọn bình tâm xướng rằng:
“Các nam tử xin đừng hốt hoảng
Phải một lòng niệm tưởng Quán Âm
Ngài ban vô úy diệu thâm
Chúng ta xưng niệm nhất tâm thoát nàn.”
“Nam-mô Quán Thế Âm Bồ-tát!” O
Các thương nhân được đồng phát tiếng xưng
Nhờ xưng danh hiệu ân cần
Đoàn thương nhân được thoát phần nguy nan.
Vô Tận Ý! Quán Âm Bồ-tát O
Sức oai thành to tát dường kia,
Nếu người dâm dục nhiều bề
Niệm danh Bồ-tát dứt lìa dâm tâm.
Nếu có kẻ nhiều sân, lắm hận
Niệm Quán Âm hận tận, sân lìa.
Nếu người si chướng nhiều bề
Niệm danh Bồ-tát dứt lìa si tâm.
Vô Tận Ý! Quán Âm Bồ-tát O
Sức oai thành to tát dường kia,
Năng làm lợi ích nhiều bề
Chúng sanh tâm niệm chớ hề lãng xao.
Nếu phụ nữ muốn cầu con cái
Năng cúng dường lễ bái Quán Âm
Cầu nam thì đặng sanh nam
Cầu nữ sanh nữ chí tâm đắc thành,
Cầu nam được trai lành đức trí
Cầu nữ sanh gái quý đẹp xinh
Trước trồng cội đức nhơn lành
Ai ai nhìn thấy kính thành ái thâm.
Vô Tận Ý! Quán Âm Bồ-tát O
Sức oai thần to tát dường kia,
Cúng dường lễ bái chi chi
Chẳng bao mấy phước, nên trì niệm danh.
Ví ai tưởng muôn nghìn Bồ-tát
Niệm nhiều tên như cát sông Hằng
Sáu mươi hai ức gia tăng
Sắm sanh tứ sự cúng dâng trọn đời,
Vô Tận Ý, vậy ngươi suy nghĩ
Công đức người dường ấy nhiều chăng?
Ngài Vô Tận Ý thưa rằng:
“Thế Tôn! Phước ấy vô ngần xiết chi.”
Phật lại nói: “Bằng khi có kẻ
Niệm Quán Âm cho chí một thời,
Cúng dường lễ bái đức Ngài
Phước so người ấy kẻ này như nhau.
Ngàn muôn ức kiếp sau chẳng dứt
Niệm Quán Âm phước đức vô ngần…”
Ngài Vô Tận Ý  bạch rằng:
“Thế Tôn! Bồ-tát Quán Âm sao là
Dạo khắp cõi Ta-bà thế giới
Vì chúng sanh giảng nói pháp lành
Sức mầu phương tiện độ sanh
Đâu là duyên cớ, cúi xin giải bày?”
Phật mới bảo: “Hỡi này nam tử,
Có chúng sanh quốc độ xa gần
Muốn cầu thân Phật độ dân
Quán Âm liền hiện Phật thân hộ trì,
Cõi muốn được Bích-chi hóa độ
Hiện Bích-chi vì đó giảng kinh,
Muốn Thinh văn đến độ sanh
Hiện Thinh văn đến pháp lành tuyên dương,
Cõi muốn được Phạm vương hóa độ
Hiện Phạm vương vì đó giảng kinh,
Muốn cầu Đế Thích độ sanh
Hiện thân Đế Thích pháp lành giảng phân,
Muốn Tự Tại Thiên thân hóa độ
Hiện thân này vì đó giảng kinh,
Muốn Đại Tự Tại thân hình
Hiện Đại Tự Tại thuyết minh độ trần,
Muốn Thiên Đại tướng Quân hóa độ
Hiện Tướng Quân vì đó giảng kinh,
Muốn Tỳ-Sa đến độ sanh
Hiện Tỳ-Sa đến pháp lành giảng phân,
Muốn Tiểu Vương dùng thân hóa độ
Hiện thân này vì đó giảng kinh,
Muốn cầu Trưởng giả độ sanh
Hiện thân Trưởng giả thuyết trình lý chân,
Muốn Cư sĩ dùng thân hóa độ
Hiện thân này vì đó giảng phân,
Cõi nào muốn bậc Tể quan
Hiện Tể quan đến luận bàn cao xa,
Cõi muốn được Bà-la-môn độ
Hiện thân này vì đó giảng kinh,
Muốn cầu Tứ chúng độ sanh
Hiện thân Tứ chúng thuyết minh luận bàn,
Muốn Phụ nữ của hàng Trưởng giả
Bà-la-môn, Cư sĩ, Tể quan
Tức thì hiện Phụ nữ thân
Tùy cơ nói pháp độ dân muôn ngàn,
Cõi muốn được Đồng nam hóa độ
Hiện Đồng nam vì đó giảng kinh,
Muốn cầu Đồng nữ độ sanh
Hiện thân Đồng nữ pháp lành giảng ra,
Muốn Thiên, Long, Dạ-xoa, Càn-thát
Ca-lầu-la cùng các Tu-la
Khẩn-na-la, Ma-hầu-la
Muốn cầu tất cả Nhân và Phi nhân
Hiện thân đó ân cần nói pháp
Phương tiện này độ khắp thế gian,
Muốn cầu thần Chấp Kim Cang
Hiện thân thần Chấp Kim Cang độ trần.
Vô Tận Ý! Quán Âm Bồ-tát O
Thành tựu phần công đức oai linh
Thần thông hiện các thân hình
Dạo cùng khắp cõi độ sanh thoát nàn.
Các ngươi phải cúng dường chăm chỉ
Chỗ nguy nan vô úy ban ra
Cho nên trong cõi Ta-bà
Gọi vô úy thí đó là Quán Âm.”
Vô Tận Ý thưa rằng: “Bạch Phật
Con cúng dường Bồ-tát Quán Âm”
Cổi xâu anh lạc bảo trân
Báu mầu đáng giá nghìn, trăm lượng vàng
Dâng Bồ-tát thưa rằng: “Nhơn giả
Nhận của này pháp thí bảo trân.”
Bấy giờ Bồ-tát Quán Âm
Không ưng thọ lãnh bảo trân cúng dường.
Vô Tận Ý thưa cùng Bồ-tát:
“Xin từ bi thọ nạp bảo trân”
Bấy giờ Phật bảo Quán Âm:
“Phải thương tứ chúng cùng hàng Thiên, Long
Vô Tận Ý trong vòng Bồ-tát
A-tu-la, Càn-thát, Dạ-xoa
Ca-lầu-la, Khẩn-na-la
Ma-hầu-la với Nhân và Phi nhân
Mà thọ lãnh bảo trân anh lạc.”
Tức thời ngài Bồ-tát Quán Âm
Thương trong tứ chúng các hàng
Thiên, Long, Nhân với các đoàn Phi nhân
Nhận anh lạc hai phần phân tách
Kính dâng lên hai đức Phật Đà
Một phần dâng Phật Thích-ca O
Một phần phụng tháp Phật Đa Bảo gần.
“Vô Tận Ý! Quán Âm Bồ-tát
Có sức thần to tát thế kia
Ta-bà tự tại đi về…”
Ngài Vô Tận Ý kệ thi hỏi rằng:

“Đức Thế Tôn tường tốt
Con xin hỏi lại rằng:
Nhơn duyên gì Bồ-tát
Tên gọi Quán Thế Âm?”

Phật hoàn toàn tướng quý
Kệ đáp Vô Tận Ý:
“Người nghe lực quán âm
Khắp nơi nơi hiện thị.

Hầu nhiều ngàn ức Phật
Nhiều kiếp khó lường biên
Quán Thế Âm Bồ-tát O
Phát rộng thanh tịnh nguyện.

Ta vì người lược thuyết
Nghe thấy niệm Quán Âm
Các khổ não tiêu diệt
Nếu một niệm thành tâm.

Dầu ai có ác tâm
Xô té hầm lửa độc
Nhờ lực niệm Quán Âm
Hầm lửa thành ao nước.

Hoặc ai chìm biển cả
Mắc nạn quỷ, rồng, cá
Nhờ lực niệm Quán Âm
Sóng gió không gây họa.

Hoặc có kẻ ác tâm
Từ Tu-di xô ngã
Nhờ lực niệm Quán Âm
Như mặt trời không hạ.

Hoặc có kẻ đuổi phăng
Từ Kim Cang té xuống
Nhờ lực niệm Quán Âm
Một mảy lông chẳng tổn.

Hoặc giặc oán vây gần
Đều cầm gươm muốn hại
Nhờ lực niệm Quán Âm
Lòng lành kia bỗng khởi.

Hoặc tội vua phạm nhằm
Sắp thọ hình tuyệt mạng
Nhờ lực niệm Quán Âm
Đao liền gãy từng đoạn.

Hoặc mắc cảnh giam cầm
Tay chân bị còng trói
Nhờ lực niệm Quán Âm
Tự nhiên đặng thoát khỏi.

Hoặc bị đầu độc ngầm
Ai mưu hại mình khổ
Nhờ lực niệm Quán Âm
Mưu hại hoàn về đó.

Hoặc gặp La sát gần
Rồng độc cùng quỷ quái
Nhờ lực niệm Quán Âm
Thảy đều không dám hại.

Bị thú dữ vây quần
Nhăn nanh xòe vuốt đón
Nhờ lực niệm Quán Âm
Vôi tìm đường chạy trốn.

Rắn độc và bò cạp
Hà hơi độc đốt khắp
Nhờ lực niêm Quán Âm
Nghe tiếng liền ẩn nấp.

Mây giăng sấm sét nháng
Mưa đá tuôn hỗn loạn
Nhờ lực niệm Quán Âm
Tức thời đều tiêu tán.

Chúng sanh vướng tai nàn
Thân khổ bức gian nan
Quán Âm sức trí diệu
Năng cứu khổ thế gian.

Thần thông lực phi thường
Quán Âm nhiều phương tiện
Các quốc độ mười phương
Không cõi nào chẳng hiện.

Các loài trong đường dữ
Nhờ diệu lực Quán Âm
Tam đồ cùng tứ khổ
Khiến thoát khỏi lần lần.

Chơn quán, thanh tịnh quán
Trí huệ quán rộng lớn
Bi quán, Từ quán chung
Thường nguyện, thường chiêm ngưỡng.

Thể sáng suốt không dơ
Mặt trời tuệ phá mờ
Năng trừ tai gió, lửa
Soi sáng khắp trần nhơ.

Thể Bi như sấm nổ
Lòng Từ tợ mây giăng
Rưới mưa pháp cam lộ
Diệt lửa phiền lao trần.

Kiện thưa đến cửa quan,
Trong trận quân kinh hoảng
Nhờ lực niệm Quán Âm
Kẻ oán đều lui tán.

Tiếng diệu, tiếng quán thế
Tiếng phạm, tiếng hải triều
Tiếng thế gian khó tỷ
Nên phải niệm thường nhiều.

Niệm niệm chớ nghi nan
Quán Âm là tịnh Thánh
Hay làm chỗ dựa nương
Cho kẻ trong khổ cảnh.

Đủ tất cả công đức
Mắt lành trong chúng sanh
Rộng không lường biển phước
Nên kính lễ chí thành”. O

Có Bồ-tát hiệu danh Trì Địa
Từ chỗ ngồi đứng dậy bạch rằng:
“Chúng sanh nghe lực Quán Âm
Thần thông thị hiện phước tăng, nghiệp mòn.”
Khi Phật nói Phổ Môn diệu phẩm
Chúng hội đông tám vạn bốn ngàn
Nghe rồi đều thảy phát tâm
Bồ-đề Vô thượng thậm thâm diệu huyền. O

14. PHỔ MÔN TÁN
Phổ môn thị hiện
Cứu khổ tầm thinh
Từ bi thuyết pháp
Độ khắp mê tình
Theo lời khẩn nguyện
Cảm ứng tùy hình
Tám nàn tiêu diệt
Bốn biển an bình. O

15. THẬP NHỊ NGUYỆN 
1. Nam-mô hiệu Viên Thông, danh Tự Tại, Quán Âm Như Lai quảng phát hoằng thệ nguyện. O
2. Nam-mô nhất niệm tâm vô quái ngại, Quán Âm Như Lai thường cư Nam Hải nguyện. O
3. Nam-mô trụ Ta-bà, U minh giới, Quán Âm Như Lai tầm thinh cứu khổ nguyện. O
4. Nam-mô hàng tà ma, trừ yêu quái, Quán Âm Như Lai năng trừ nguy hiểm nguyện. O
5. Nam-mô thanh tịnh bình, thùy dương liễu, Quán Âm Như Lai cam lồ sái tâm nguyện. O
6. Nam-mô đại từ bi, năng hỷ xả, Quán Âm Như Lai thường hành bình đẳng nguyện. O
7. Nam-mô trú dạ tuần vô tổn hoại, Quán Âm Như Lai thệ diệt tam đồ nguyện. O
8. Nam-mô vọng nam nham, cầu lễ bái, Quán Âm Như Lai già tỏa giải thoát nguyện. O
9. Nam-mô tạo pháp thuyền, du khổ hải, Quán âm Như Lai độ tận chúng sanh nguyện. O
10. Nam-mô tiền tràng phan, hậu bảo cái, Quán Âm Như Lai tiếp dẫn Tây phương nguyện. O
11. Nam-mô Vô Lượng Thọ Phật cảnh giới, Quán Âm Như Lai tiếp dẫn Tây phương nguyện. O
12. Nam-mô đoan nghiêm thân, vô tỷ toại, Quán Âm Như Lai quả tu thập nhị nguyện. O

16. QUÁN ÂM TÁN
Viên Thông hiệu quý
Đại sĩ Quán Âm
Mười hai nguyện lớn
Quảng đại cao thâm
Vào nơi khổ hải
Độ khỏi mê tân
Tầm thinh cứu khổ
Chốn chốn hiện thân. O
Nam-mô Quán Thế Âm Bồ-tát. O (3 lần)

17. BÁT-NHÃ TÂM KINH
Khi hành Bát-nhã Ba-la
Ngài Quán Tự Tại soi ra tột cùng
Thấy ra năm uẩn đều không
Bao nhiêu khổ ách khốn cùng độ qua.
Này Xá-Lợi Tử xét ra
Không là sắc đó, sắc là không đây
Sắc cùng không chẳng khác sai
Không cùng sắc cũng sánh tày như nhau
Thọ, tưởng, hành, thức uẩn nào
Cũng như sắc uẩn một màu không không.
Này Xá-Lợi Tử ghi lòng
Không không tướng ấy đều không tướng hình
Không tăng giảm, không trược thanh
Cũng không diệt, cũng không sanh: pháp đồng
Vậy nên trong cái chơn không
Vốn không năm uẩn, cũng không sáu trần
Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý, thân
Vị, hương, xúc, pháp, cùng phần sắc, thinh
Từ không giới hạn mắt nhìn
Đến không ý thức, vô minh cũng đồng
Hết vô minh cũng vẫn không
Hết già, hết chết, giả không có gì
Không khổ, tập, diệt, đạo kia
Trí huệ chứng đắc cũng là không không
Sở thành sở đắc bởi không
Các vị Bồ-tát nương tùng tuệ năng
Tâm không còn chút ngại ngăn
Nên không còn chút băn khoăn sợ gì
Đảo điên mộng tưởng xa lìa
Niết-bàn mới đến bên kia bến bờ
Ba đời chư Phật sau xưa
Đắc thành Chánh giác đã nhờ huệ năng.
Trí huệ năng lực vô ngần
Đại minh vô thượng, đại thần cao siêu
Trí huệ năng lực có nhiều
Thật là thần chú trừ tiêu não phiền
Trí huệ năng lực vô biên
Dẫn đường giải thoát qua bên giác ngàn.
Liền theo lời chú thuyết rằng:
Độ tha, giác ngộ khắp trần chúng sanh. O

18. THẬP NGUYỆN
MỘT nguyền lễ kính Như Lai
HAI nguyền xưng tán công dày Thế Tôn
BA nguyền tu phước cúng dường
BỐN nguyền sám hối nghiệp vương tội trần
NĂM nguyền tùy hỷ công huân
SÁU nguyền thỉnh chuyển pháp luân độ người
BẢY nguyền thỉnh Phật ở đời
TÁM nguyền học Phật tùy thời phát minh
CHÍN nguyền hằng thuận chúng sanh
MƯỜI nguyền hồi hướng phước lành khắp nơi. O

19. PHÚNG KINH
Tụng kinh công đức tuyệt vời
Xin đem hồi hướng khắp người gần xa
Chúng sanh pháp giới Ta-bà
Mau về cõi Phật Di-Đà Tây thiên. O

20. NGUYỆN TIÊU
Nguyện tiêu tam chướng não phiền
Nguyện thành trí huệ vô biên tuyệt vời
Nguyện bao nghiệp tội xa rời
Nguyện hành Bồ-tát đời đời độ tha. O

21. NGUYỆN SANH
Nguyện về Tịnh độ nước nhà
Hoa sen chín phẩm là cha mẹ mình
Hoa khai ngộ pháp vô sanh
Bất thối Bồ-tát bạn lành dựa nương. O

22. HỒI HƯỚNG
Nguyện đem công đức lành
Hồi hướng cho tất cả
Chúng con với chúng sanh
Đều chứng thành Phật quả. O

23. TAM TỰ QUY Y
Tự quy y Phật
Cầu cho chúng sanh
Hiểu rõ đạo lành
Phát lòng vô thượng. O

Tự quy y Pháp
Cầu cho chúng sanh
Kinh luật hiểu rành
Trí huệ như biển. O

Tự quy y Tăng
Cầu cho chúng sanh
Hiệp chúng đồng tình
Chẳng hề trở ngại. O

Xã Hội Khoa Học Phật Giáo Dục
( Đạo Pháp _ Dân Tộc _ An Lạc )
Vương Quốc Vạn An
Liên Tông Cửu Long Kim Pháp
Đạo Giáo Thiên Đồng
Phật Hoàng Trần An
Gia Tộc Vua Trần
Tác giả: MẬT ẤN TỊNH THỌ
( Geshe Rinpoche: Thích Quảng An )

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2019

Đạo Pháp nhiệm mầu lần 26






Mô Phật Đạo Tổ Từ Bi giáng kiết tường Phật Bồ Tát Ma Ha Tát
Hôm nay T sẽ chia sẽ với quý vị Đạo Phật Pháp nhiệm mầu lần thứ 26
Chí Tâm đảnh lễ : Nam Mô Tận Hư Không Biến Pháp Giới quá hiện vị lai Thập Phương Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo…
Chí Tâm đảnh lễ: Nam Mô Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi tiếp dẫn Đạo Sư A Di Đà Như Lai Phật Giáng Lâm Chứng Minh
Ngưỡng bái bạch mười phương chư Phật, chư Tôn Thiền Đức, Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni và đại chúng ẩn thân hay hiện hình trong cõi Hư Không quy tựu về Phúc Lộc Thọ hậu Cung của Đạo Tràng Vạn An, dự lễ khai đàn thuật Pháp ( Đạo Phật Pháp nhiệm mầu lần thứ 26 ) của Đương Lai Hạ Sanh Di Lạc Vương Tôn Phật ( Phật Hoàng Trần An ) 
Đến dự lễ khai đàn thuật Đạo Phật Pháp lần 26 gồm có:
Mười phương chư Phật, đặc biệt là Cực Lạc thế giới có Thất Phật quang lâm chứng minh. Chưởng quản là Đức Từ Phụ A Di Đà Như Lai Phật, chư vị Bồ Tát, Chư vị Thanh Văn, Chư vị A La Hán, Chư Thiên, Chư Tiên, Chư Thánh, Chư Thần, Trời Rồng Thiên Long Bát Bộ, cùng tất cả chư Tôn Thiền Đức trong thiền thức sẽ đến dự lễ khai đàn nghe thuật Đạo Phật Pháp lần 26 ở cõi Ta Bà nầy. Chư vị quan khách đến khai đàn thuật Đạo Phật Pháp đều có các vị Long Vương và Quan Long, dân Long, trung Long, tiểu Long kết thành đài Long Liên Hoa tùy theo công đức và chức vị của mổi chư vị quan khách, được chư vị tổ chức khai đàn thuộc Cửu Long Kim Pháp đưa rước và bảo vệ vào dự lễ đàn. Để nghe Đức Phật ra đời mở tám vạn bốn nghìn cửa pháp, là ánh Nhật Nguyệt cõi Thiên, Cung Trời Đao Lợi  phá tối tăm sinh linh nơi đại địa. Kính xin thất Phật Thế Tôn, mười phương Chư Phật, hiện tướng hào quang sáng suốt, giám soi ý khẩn chơn thành.
Chư vị lắng nghe:
Hôm nay Thầy nói về sự công năng tinh tấn tu luyện Tâm Đại Định, đạt tới cảnh giới tối cao thượng thừa của Đạo Tổ Từ Bi phái ( Đạo Giáo Thiên Đồng ), vượt qua mọi chướng ngại đã có trong chữ Nhẫn của Thập Phương Chư Phật, đặc biệt là của Ngài Quan Âm, Ngài Quan Âm có hỏi: Các vị có Im Lặng ngồi khi Chúng Sanh bái lạy cầu khẩn trong Vũ Trụ nói chung, trong các Chùa, Tu Viện, Tự, Thất, Am, Cốc , Hang , Động trong các Núi nói riêng theo Luật Nhân Quả không?. Chỉ có Chư Phật và các đấng tối cao thượng thừa chẳng thể nghĩ bàn mới Im Lặng được.
Chư vị lắng Nghe: từ khi Thầy nhập thế để khai mở Ấn Đạo Tổ và Ấn Phật Vương, để cho Xã Hội Khoa Học Phật Giáo Dục của nền Giáo Dục ( Đạo Pháp _ Dân Tộc _ An Lạc ) phát triển ở Cỏi Ta Bà nầy được Thịnh Hưng, gom tất cả các Tôn Giáo về thành một mối Đạo, để cho Đại Địa Thế Giới Ta Bà nầy được Bình An An Lạc Kiết Tường Như Ý, sẽ thành Cực Lạc Thế Giới ở cỏi Ta Bà nầy.
Chư vị lắng nghe: Trong thời gian nhập thế, Thầy đã trãi qua bao nhiêu chướng ngại thử thách từ Xã Hội đương thời, cho đến các Tôn Giáo nhân danh Chánh Phái hay Tà Phái, từ cuộc sống hiện tiền của Đạo và Đời song Tu luyện. để biết người đắc Đạo hay không là nhìn vào cách đối nhân xử thế và hành trì miên mật đúng theo quy luật và thời khóa biểu của người Tu luyện đó được ứng chứng theo định luật hàng ngày.
Để tiếp tục tập 1 của Phim Phật nhập thế, trong tập 2 nầy Thầy sẽ tiếp tục nói sự ứng chứng của sự Tu luyện trong đời thường của chúng ta.
Từ khi Vua Trần An vào Hòa An của Sóc Tre xưa kia đã lập miếu thờ Vua của Trần Triều , lấy tên Miếu là Thái Miếu, 
Đường vào Sẻo Miểu Cây Cui
Đi qua đường đất nhà Anh ba Chờ
Người niệm Phật khách thăm quan
Phật Vương thanh tịnh nhẹ nhàng trần duyên

Rồi đây trước Miểu sau Chùa
Hai tay lể Phật xin Bùa về đeo


TRẦN TRIỀU THÁI MIẾU
TRẦN Triều Thái Miếu đã ghi tên
TRIỀU Trần An Lạc đã làm nền
THÁI Miếu phát Vương Di Lạc đến
MIẾU từ Di Lạc Phật hiển lên
Miếu nay đổi thành phong cách thờ Vua , thành thờ Chín Bà Cửu Thiên Huyền Nữ do chính quyền sắp xếp, Miếu nay hoang tàn, không có sự tôn nghiêm thờ phụng, cho nên Đạo Đức người dân suy đồi mạt kiếp tranh chấp nhau, không còn tình con người nữa. 

và lập Chùa Vạn An 






sau miếu nầy, và trồng 2 cây Me 


hai cây Me chỉ còn 1 cây , trước kia Vua Trần An trồng vào năm 1425 cùng thời lập Miếu.

và bụi Tre Vàng 




và có nuôi một cặp rắn ( Rắn Bà )

từ năm 1425 cho đến nay đã nhiều thay đổi, nay đã hoang tàn vì nhiều đời tranh chấp không hiểu lịch sử để Tôn tạo lại, nên Nam Việt Nam Bang ( Thánh Nhân Xuất Thế ) đều bị tiêu diệt.
Nhưng thời gian qua Thầy có trùng tu lại đôi chút lại để có Phúc phần cho Bản thân nói riêng, cho Nhân Loại nói chung, nhưng vì Hoằng dương Giáo Pháp mới, nên Thầy đã đi khắp nơi trong Thiên Hạ để Hoằng Giáo độ Sanh độ Tử theo Y Lệnh của thập phương Chư Phật nói riêng, của Vũ Trụ bao là nói chung. Đến nay Sứ Mệnh của Thầy đã hoàn thành trước thời hạn, Thầy đã về nơi đây trở lại và trùng tu lại những gì đã được Chư Phật thọ ký, để ngày đăng cơ độ thế kỳ ba được hoàn mãn. Từ khi Thầy về đây, các di tích từ xưa nay phục hồi lại dần, đặc biệt nhất là đôi Rắn Bà, đêm nào cũng về nghe Kinh, nghe Pháp, đặc biệt là báo trước những gì xãy ra sắp tới, hay những việc cần làm, những việc sắp tới mà Thầy cần làm. Cũng như những việc bảo vệ hộ trì Chánh Đạo Pháp. Nếu ai có duyên lành, tu luyện miên mật suốt ,1,2,3,4,5,6,7 đèn thì sẽ thấy được cặp Rắn Bà nầy Tu luyện hộ trì Thầy hoằng dương Giáo Đạo Pháp thời kỳ ba nầy.
Trong buổi lễ nầy có rất nhiều chi tiết nói bằng Mật ngữ , Thầy không tiện đăng lên hay nói ra, chỉ cho quý vị biết là sự việc xãy ra như vậy đó.
Cuối cùng là Thầy xin kính chúc Chư Tôn Thiền Đức, Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni và đại chúng ẩn thân hay hiện hình trong cõi Hư Không, Thân Tâm An Lạc Hạnh Phúc Kiết Tường Như Ý. Để Thượng thành Phật Đạo, Hạ hóa độ Chúng Sanh.
THƯỢNG Hạ thành Đạo độ Chúng Sanh
HẠ hóa Thiên Nhơn Pháp Chánh Thành
THÀNH Đạo Phật thành ai dám sánh
ĐẠO là An Lạc Di Lạc sanh

Xã Hội Khoa Học Phật Giáo Dục
( Đạo Pháp _ Dân Tộc _ An Lạc )
Vương Quốc Vạn An
Liên Tông Cửu Long Kim Pháp
Đạo Giáo Thiên Đồng
Phật Hoàng Trần An
Gia Tộc Vua Trần
Tác giả: MẬT ẤN TỊNH THỌ
( Geshe Rinpoche: Thích Quảng An )


Thứ Hai, 8 tháng 4, 2019

Thơ gởi Đạo Tràng Vạn An


Thơ gởi Đạo Tràng Vạn An ( Đạo Tràng Từ Bi )
Sự Cảm Ứng, Sự Thù Thắng từ Việc
Đọc , Trì , Tụng Kinh Phật
Của Đạo Tổ Từ Bi
Phái Đạo Giáo Thiên Đồng
Vương Quốc Vạn An
Cung Trời Đâu Suất
Di Lạc Vương Cung
Kim Ngôn dặn dò chỉ thị Từ Bi của Chư Phật : “ Chư Phật Bồ Tát và chúng sanh của thập phương tam giới đều đang vì nhân duyên phổ độ ứng vận của Di Lạc, ứng vận lần này mà mừng rỡ, tận bi nguyện, dốc toàn lực vì công tác thâu viên mà nỗ lực; mà chủ Đạo cho đại nhân duyên này thì lại hoàn thành tại nhân gian. Quý vị thật khéo mà nắm bắt lấy thời điểm tốt đẹp này, chẳng ganh ghét chẳng tham cầu, mà chân thành thật tu thì mới không phụ lòng sự trợ hoá của Người, Trời , Chư Phật”
 “ Mười phương Cực Lạc mỗi cái đều có sự thù thắng, Di Lạc Cực Lạc thì lại là thù thắng nhất trong mọi thù thắng, phương tiện đặc biệt khác thường trong số các phương tiện. là khiến cho chúng sanh biết rõ sự dễ dàng cầu sanh của Di Lạc Cực Lạc, sự dễ dàng hành trì của Pháp Môn Di Lạc là : Đọc Kinh, Trì Kinh, Tụng Kinh, càng muốn chúng sanh biết rõ Di Lạc Cực Lạc là chỗ của Nhất Sanh Bổ Xứ, những vị trước khi thành Phật thì đều trú sanh ở Cực Lạc này. Đức Thế Tôn khi vẫn chưa thành phật quả chánh đẳng chánh giác cũng là trú ở trong cõi Cực Lạc này, do vậy mà Di Lạc Cực Lạc gọi là Nhất Sanh Bổ Phật Xứ, bậc trí tuệ như Đức Thế Tôn mà còn như vậy, chúng sanh cầu sanh ở cõi Cực Lạc này sao có thể không gọi là thù thắng nhất.
Om Mai Tre Ya Budha Svaha
Mô Phật Đạo Tổ Từ Bi giáng kiết tường Phật Bồ Tát Ma Ha Tát