Thứ Hai, 8 tháng 4, 2019

108 lạy Sám Hối


1. XƯỚNG: Đối trước chư Phật cả ba đời,
Trong các thế giới khắp mười phương,
Con đem thân miệng ý thanh tịnh,
Kính lễ cùng khắp không bỏ sót;
Nhờ sức oai thần hạnh Phổ Hiền,
Hiện thân khắp trước các Như Lai,
Một thân lại hiện vô số thân,
Mỗi thân kính lễ vô số Phật.
Vô số Phật trong một vi trần,
Đều ngự giữa chúng hội Bồ-tát;
Cùng khắp pháp giới cũng như vậy,
Lòng tin chư Phật đều đầy đủ.
HÒA: Một lòng kính lạy Ba Ngôi Báu Phật Pháp Tăng thường trú trong khắp mười phương pháp giới, trải suốt ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. (1 lạy)
2. XƯỚNG: Chư Phật khắp mười phương,
Đấng Đại Thánh Thế Tôn
Thấy tột cùng thật tướng
Vạn pháp ở thế gian,
Bậc Thầy của trời người.
Cho nên con hôm nay
Xin quay về nương tựa.

 HÒA: Đệ tử chúng con qui y Phật, đấng phước đức trí tuệ vẹn tòan. Xin nguyện đời đời, vĩnh viễn không qui y trời thần quỉ vật.(1 lạy)
3. XƯỚNG: Tất cả Pháp thường trú,
 Lời Phật dạy thanh tịnh,
 Có công năng chữa lành
 Các bệnh khổ thân tâm.
 Cho nên con hôm nay
 Xin quay về nương tựa.
 HÒA: Đệ tử chúng con qui y Pháp, con đường xa lìa tham dục, đưa đến cuộc sống thanh tịnh. Xin nguyện đời đời, vĩnh viễn không qui y ngọai đạo tà giáo. (1 lạy)
4. XƯỚNG: Chư vị Đại Bồ Tát
 Không an hưởng niết bàn
 Của bốn quả Thanh Văn,
 Mà phát tâm cứu độ
 Khắp chúng sinh đau khổ.
 Cho nên con hôm nay
 Xin quay về nương tựa.
 HÒA: Đệ tử chúng con qui y Tăng, bậc tôn quí giữa mọi người. Xin nguyện đời đời, vĩnh viễn không qui y tà sư bạn xấu. (1 lạy)
5. XƯỚNG: Thời Phật đang tại thế
 Chúng con còn trầm luân,
 Nay được sinh làm người
 Thì Phật đã diệt độ!
 Đáng thương cho chúng con
 Nghiệp dầy mà phước mỏng,
 Nên xin đem một niệm
Chí thành cầu sám hối.
 HÒA: Do tham sân si từ vô thỉ,
Chúng con đã tạo nhiều tội lỗi,
Bằng cả ba nghiệp thân ngữ ý,
Hôm nay thảy đều xin sám hối. (1 lạy)
6. XƯỚNG: Đệ tử chúng con từ đời vô thỉ,
Xa rời chân tánh, trôi giạt sông mê,
Xuôi theo sinh tử để nổi chìm,
Đuổi bám sắc thanh mà đắm nhiễm;
Mười triền mười sử, chứa thành hữu lậu nghiệp nhân;
Sáu căn sáu trần, gây nên vô biên tội cấu;
Mê man bể khổ, lún mãi đường tà;
Chấp chặt ngã nhân, bỏ ngay làm quấy;
Bao đời nghiệp chướng, chồng chất lỗi lầm.
Ngưỡng mong trên Tam Bảo từ bi,
Chúng con tâm thành xin sám hối.
 HÒA: Do tham sân si từ vô thỉ,
Chúng con đã tạo nhiều tội lỗi,
Bằng cả ba nghiệp thân ngữ ý,
Hôm nay thảy đều xin sám hối. (1 lạy)
7. XƯỚNG: Tội từ tâm khởi đem tâm sám,
 Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu,
Tội tiêu tâm tịnh thảy đều không.
Như thế thật là chân sám hối.
 HÒA: Do tham sân si từ vô thỉ,
Chúng con đã tạo nhiều tội lỗi,
Bằng cả ba nghiệp thân ngữ ý,
Hôm nay thảy đều xin sám hối. (1 lạy)
8. XƯỚNG: Con nguyện tu hành đạo bồ đề,
 Dù sinh nơi nào cũng nhớ lại
 Thường được xuất gia tu tịnh giới,
 Không thiếu, không sót, không hủy phạm.
 Hòa: Nay con phát nguyện thọ trì ba nhóm tịnh giới: Nhóm tịnh giới thứ nhất là “nhiếp luật nghi”; con nguyện từ nay cho đến vô tận đời vị lai: không làm các việc ác. (1 lạy)
9. XƯỚNG: Dùng tâm không chấp tướng “ngã”, không chấp tướng “nhân”, không chấp tướng “chúng sinh”, không chấp tướng “thọ mạng”, để tu tập tất cả pháp lành, chắc chắn thành tựu quả vị Bồ Đề Vô Thượng.

 HÒA: Nay con phát nguyện thọ trì ba nhóm tịnh giới: Nhóm tịnh giới thứ hai là “nhiếp thiện pháp”; con nguyện từ nay cho đến vô tận đời vị lai: luôn tinh tấn làm các việc lành. (1 lạy)
10. XƯỚNG: Chúng sinh không số lượng, thệ nguyện đều độ khắp.
 Phiền não không cùng tận, thệ nguyện đều dứt sạch.
 Pháp môn không kể xiết, thệ nguyện đều tu học.
 Quả Phật không gì hơn, thệ nguyện được viên thành.
 HÒA: Nay con phát nguyện thọ trì ba nhóm tịnh giới: Nhóm tịnh giới thứ Ba là “nhiêu ích hữu tình”; con nguyện từ nay cho đến vô tận đời vị lai: cứu độ tất cả chúng sinh. (1 lạy)
11. XƯỚNG: Tu tập các pháp lành mà bỏ mất tâm bồ đề, đó chính là ma nghiệp.
 HÒA: Nay con phát tâm không vì tự cầu phước báo nhân thiên, Thanh-văn, Duyên-giác, cho đến các bậc Bồ-tát quyền thừa; chỉ y theo tối thượng thừa mà phát tâm bồ đề. Nguyện cùng chúng sinh trong khắp pháp giới, một thời đồng chứng đạo quả Vô Thượng Bồ Đề. (1 lạy)
12. XƯỚNG: Cúi đầu dưới đài sen,
 Qui y đấng Đại Giác,
 Mười hiệu chứng Bồ Đề,
 Một vầng trăng tròn đầy.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Thế Tôn với đầy đủ mười hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, và Phật. (1 lạy)
13. XƯỚNG: 
Phật, chúng sinh tánh thường rỗng lặng,
 Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn.
 Đạo tràng của chúng con nơi đây
Giống như lưới ngọc trời Đế Thích,
Chư Phật mười phương đều ảnh hiện,
Thân con ảnh hiện trước chư Phật,
Cúi đầu thành tâm xin đảnh lễ.
HÒA: Một lòng kính lạy tất cả chư Phật và vô lượng Bồ Tát, Thánh, Hiền trong vô cùng thế giới khắp mười phương thuộc kiếp Trang-nghiêm đời quá khứ. (1 lạy)
14. XƯỚNG: Đại từ đại bi thương chúng sinh,
 Đại hỉ đại xả cứu muôn lòai,
 Tướng tốt chói sáng tự trang nghiêm,
 Chúng con chí thành xin đảnh lễ.

Hòa: Một lòng kính lạy tất cả chư Phật và vô lượng Bồ Tát, Thánh, Hiền trong vô cùng thế giới khắp mười phương thuộc kiếp Hiền đời hiện tại. (1 lạy)
15. XƯỚNG: Xem thế giới như hư không,
 Như hoa sen không dính nước,
 Tâm thanh tịnh còn hơn thế,
 Kính lạy đức Vô Thượng Tôn.
 HÒA: Một lòng kính lạy tất cả chư Phật và vô lượng Bồ Tát, Thánh, Hiền trong vô cùng thế giới khắp mười phương thuộc kiếp Tinh-tú đời vị lai. (1 lạy)
16. XƯỚNG: Phật dạy: Hạnh nhẫn nhục
Là pháp tu thứ nhất,
Pháp vô vi tột cùng.
Cho nên người xuất gia
Gây khổ não cho người,
Thì không gọi “sa môn”.
HÒA: 
Một lòng kính lạy đức Phật Tì Bà Thi. (1 lạy)
17. XƯỚNG: Ví như người mắt sáng,
 Tránh được đường hiểm nguy,
 Người có trí trên đời,
 Vĩnh viễn không làm ác.

 HÒA: 
Một lòng kính lạy đức Phật Thi Khí. (1 lạy)
18. XƯỚNG: Không ghét, không hủy báng,
 Thường hành trì giới luật,
Ăn uống nên biết đủ,
Lấy nhàn tịnh làm vui,
Tâm định tĩnh, tinh tấn,
Đó là lời Phật dạy.
 HÒA: 
Một lòng kính lạy đức Phật Tì Xá Phù. (1 lạy)
19. XƯỚNG: Như ong hút nhụy hoa,
 Chỉ lấy vị bay đi,
 Không làm mất sắc hương,
 Tì kheo vào làng xóm,
 Không bận tâm chuyện người:
 Nên làm, không nên làm.
 Chỉ xét việc mình làm:
 Chính đáng, không chính đáng.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật Câu Lưu Tôn. (1 lạy)
20. XƯỚNG: Tâm ý không buông lung,
 Siêng tu học Chánh Pháp,
 Trừ bỏ hết ái nhiễm,
 Tâm định là niết bàn.

HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni. (1 lạy)
21. XƯỚNG: Không làm các điều ác,
 Siêng làm các điều lành,
 Giữ tâm ý thanh tịnh,
Đó là lời Phật dạy.
 HÒA: 
Một lòng kính lạy đức Phật Ca Diếp. (1 lạy)
22. XƯỚNG: Thân không làm điều ác,
Khéo giữ gìn lời nói,
 Giữ tâm ý thanh tịnh,
 Cả ba nghiệp trong sạch.
 Tu tập được như vậy,
 Đại Tiên trong lòai người.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. (1 lạy)
23. XƯỚNG: Nơi thể tánh chân như,
 Pháp hữu vi không thật,
 Duyên sinh, nên như huyễn;
 Vô vi không sinh diệt,
 Cũng không phải thật pháp,
 Như hoa đốm hư không.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật Tì Lô Giá Na, Pháp Thân thanh tịnh nhiệm mầu, cõi Thường-tịch-quang. (1 lạy)
24. XƯỚNG: Mặt Phật như trăng rằm,
 Như ánh sáng mặt trời,
 Chiếu soi khắp mười phương,
 Đủ từ bi hỉ xả.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật Lô Giá Na, Báo Thân viên mãn, cõi Thật-báo trang-nghiêm. (1 lạy)
25. XƯỚNG: Tâm Phật khó nghĩ bàn,
 Trí và thân cũng vậy,
 Vì hóa độ chúng sinh,
 Rộng mở các phương tiện.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, Hóa Thân vô số lượng, cõi Phương-tiện thánh-cư. (1 lạy)
26. XƯỚNG: Biết nhân, pháp vô ngã,
Phiền não, sở tri chướng
Thường thanh tịnh vô tướng,
Nên khởi tâm đại bi.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, tùy lọai ứng thân hóa độ, cõi Phàm-thánh đồng-cư. (1 lạy)
27. XƯỚNG: Khắp trời đất không ai bằng Phật,
 Mười phương thế giới cũng không bằng,
 Tất cả hiện hữu trong thế gian,
 Tất cả đều không sánh bằng Phật.

 HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, đấng Thế Tôn đại từ bi, đầy đủ muôn công đức, đấng Giáo Chủ cõi Ta-bà, đang ngồi đạo tràng hóa độ chúng sinh. (1 lạy)
28. XƯỚNG: Trăm kiếp tu nhân đã tròn đầy,
 Quả ba a-tăng-kì đã mãn,
 Trở thành bậc Nhất Sinh Bổ Xứ,
 Hiện trú tại cung trời Đâu-suất.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật Di Lạc, đã hạ sinh làm Giáo chủ pháp hội Long-hoa. (1 lạy)
29. XƯỚNG: Thân Phật thanh tịnh như lưu li,
 Mặt Phật sáng ngời như trăng rằm,
 Phật ở thế gian thường cứu khổ,
 Tâm Phật không đâu không từ bi.
 HÒA: Một lòng kính lạy Đức Phật Dược Sư Lưu Li Quang, nơi thế giới Tịnh-lưu-li ở phương Đông, gia hộ chúng sinh tiêu trừ tai nạn, thọ mạng lâu dài. (1 lạy)
30. XƯỚNG: Không có gì gọi là niết bàn.
 Không hề có niết bàn Phật chứng,
 Cũng không có Phật chứng niết bàn.
 Xa lìa cả năng giác, sở giác,
 Dứt bặt hai ý niệm có, không.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Đa Bảo Như Lai, thành Phật từ thời quá khứ xa xôi. (1 lạy)
31. XƯỚNG: Trong cảnh giới tĩnh lặng,
 Ý niệm “sinh” không còn,
 Không có gì dính bám,
Không đời này, đời sau.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Bảo Thắng Như Lai. (1 lạy)
32. XƯỚNG: Sắc thân Phật nhiệm mầu,
 Thế gian không sánh bằng,
 Không đủ lời xưng tán,
 Cho nên con đảnh lễ.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Diệu Sắc Thân Như Lai. (1 lạy)
33. XƯỚNG: Năm uẩn đều không, dứt nghiệp trần,
 Tùy duyên ứng hiện trăm ngàn thân.
 Trong mộng thấy mộng, chồng chất mộng,
 Ngòai thân không thân, chính thật thân.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Quảng Bác Thân Như Lai. (1 lạy)
34. XƯỚNG: Sắc tướng màu hòang kim,
 Tròn đầy như trăng rằm,
 Bậc chí tôn ba cõi,
 Hàng phục mọi ma chướng,
 Trời người đều qui y.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Li Bố Úy Như Lai. (1 lạy)
35. XƯỚNG: Tín là mẹ công đức,
 Nuôi lớn các căn lành,
 Thóat khỏi dòng sinh tử,
 Chứng nhập đại niết bàn.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Cam Lồ Vương Như Lai. (1 lạy)
36. XƯỚNG: Cúi đầu kính lạy
 Đấng Đại Đạo Sư,
 Ở cõi Cực-lạc,
 Tiếp dẫn chúng sinh.
 Con nay nhất tâm
Phát nguyện vãng sinh.
Xin đức Từ Bi
Xót thương tiếp độ.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức A Di Đà Như Lai. (1 lạy)
37. XƯỚNG: Phật A Di Đà thân sắc vàng,
Tướng tốt chói sáng không ai bằng,
Lông trắng giữa chặng mày mềm mại,
Uốn lượn dài hơn năm Tu-di,
Mắt xanh biếc trong ngần bốn biển.
Trong hào quang vô số Hóa Phật,
Hóa Bồ Tát cũng nhiều vô biên.
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sinh,
Chín phẩm hoa sen lên bờ giải thoát.
Đại nguyện thứ nhất: Cõi Cực-lạc không có các đường ác.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
38. XƯỚNG: Đại nguyện thứ hai: Chúng sinh ở cõi Cực-lạc không đọa vào các đường ác.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
39. XƯỚNG: Đại nguyện thứ ba: Thân của chúng sinh ở cõi Cực-lạc đều có sắc vàng.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
40. XƯỚNG: Đại nguyện thứ tư: Hình sắc của chúng sinh ở cõi Cực-lạc đều bình đẳng, không đẹp xấu khác nhau.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
41. XƯỚNG: Đại nguyện thứ năm: Chúng sinh ở cõi Cực-lạc đều có túc mạng thông, biết rõ các kiếp quá khứ.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)

42. XƯỚNG: Đại nguyện thứ sáu: Chúng sinh ở cõi Cực-lạc đều có thiên nhãn thông, thấy suốt vô lượng Phật độ khắp mười phương.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
43. XƯỚNG: Đại nguyện thứ bảy: Chúng sinh ở cõi Cực-lạc đều có thiên nhĩ thông, nghe được pháp âm của chư Phật khắp mười phương.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
44. XƯỚNG: Đại nguyện thứ tám: Chúng sinh ở cõi Cực-lạc đều có tha tâm thông, biết được tâm niệm của khắp cả chúng sinh.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
45. XƯỚNG: Đại nguyện thứ chín: Chúng sinh ở cõi Cực-lạc đều có thần túc thông, có thể đi đến khắp các Phật độ trong mười phương một cách vô ngại.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
46. XƯỚNG: Đại nguyện thứ mười: Chúng sinh ở cõi Cực-lạc không còn khởi niệm tham ái đối với thân sau.

HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
47. XƯỚNG: Đại nguyện thứ mười một: Chúng sinh ở cõi Cực-lạc thường xuyên sống trong chánh định, cho đến khi chứng quả tịch diệt.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
48. XƯỚNG: Đại nguyện thứ mười hai: Ánh sáng của Phật A Di Đà sáng soi vô lượng, chiếu khắp mười phương Phật độ không bị chướng ngại.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
49. XƯỚNG: Đại nguyện thứ mười ba: Thọ mạng của đức Phật A Di Đà dài lâu vô lượng, làm lợi ích cho chúng sinh vô tận.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
50. XƯỚNG: Đại nguyện thứ mười bốn: Chúng Thanh-văn ở cõi Cực-lạc nhiều vô số.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
51. XƯỚNG: Đại nguyện thứ mười lăm: Thọ mạng của chúng sinh ở cõi Cực-lạc, ngọai trừ nguyện lực riêng, đều dài lâu vô lượng.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
52. XƯỚNG: Đại nguyện thứ mười sáu: Chúng sinh ở cõi Cực-lạc không nghe một lời bất thiện.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
53. XƯỚNG: Đại nguyện thứ mười bảy: Chư Phật khắp mười phương đều xưng tán danh hiệu “A Di Đà”.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
54. XƯỚNG: Đại nguyện thứ mười tám: Tất cả chúng sinh trong mười phương, hết lòng tin tưởng, muốn vãng sinh về cõi Cực-lạc, chí thành niệm 10 niệm danh hiệu Phật A Di Đà, chắc chắn sẽ được vãng sinh.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
55. XƯỚNG: Đại nguyện thứ mười chín: Chúng sinh trong mười phương phát tâm bồ đề, tu các công đức, thành tâm phát nguyện vãng sinh về cõi Cực-lạc, đến phút lâm chung, đức Phật A Di Đà cùng Thánh Chúng sẽ hiện ngay trước mặt để tiếp dẫn.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
56. XƯỚNG: Đại nguyện thứ hai mươi: Chúng sinh trong mười phương nghe danh hiệu đức Phật A Di Đà, nghĩ nhớ đến Ngài, chí thành đem mọi công đức hồi hướng nguyện sinh về cõi Cực-lạc, chắc chắn sẽ được tọai nguyện.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
57. XƯỚNG: Đại nguyện thứ hai mươi mốt: Chúng sinh ở cõi Cực-lạc đều đầy đủ 32 tướng tốt.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
58. XƯỚNG: Đại nguyện thứ hai mươi hai: Chư vị Bồ-tát ở khắp các quốc độ trong mười phương, sau khi sinh về cõi Cực-lạc, ngọai trừ có bản nguyện giáo hóa riêng, tất cả đều đạt đến địa vị “Nhất sinh bổ xứ”.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
59. XƯỚNG: Đại nguyện thứ hai mươi ba: Chư Bồ-tát ở cõi Cực-lạc đều nương Phật lực, chỉ trong khoảng bữa ăn có thể đến cúng dường chư Phật ở các Phật độ trong khắp mười phương.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
60. XƯỚNG: Đại nguyện thứ hai mươi bốn: Chư Bồ-tát ở cõi Cực-lạc, trong khi cúng dường chư Phật, muốn có bao nhiêu vật phẩm để cúng dường cũng đều có đầy đủ như ý.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
61. XƯỚNG: Đại nguyện thứ hai mươi lăm: Chư vị Bồ-tát ở cõi Cực-lạc đều có khả năng diễn nói nhất thiết trí.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
62. XƯỚNG: Đại nguyện thứ hai mươi sáu: Chư vị Bồ-tát ở cõi Cực-lạc đều có thân cứng chắc như kim cương, mạnh mẽ như thần Na La Diên.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
63. XƯỚNG: Đại nguyện thứ hai mươi bảy: Tất cả chúng sinh và vạn vật ở cõi Cực-lạc đều nghiêm tịnh vi diệu, hình sắc đặc thù, dù người có thiên nhãn thông cũng không biết rõ ràng danh số.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
64. XƯỚNG: Đại nguyện thứ hai mươi tám: Chư vị Bồ-tát cho đến những người chỉ có chút ít công đức ở cõi Cực-lạc đều có khả năng thấy biết sự cao rộng và sắc sáng vô lượng của cây đạo tràng.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
65. XƯỚNG: Đại nguyện thứ hai mươi chín: Chư vị Bồ-tát ở cõi Cực-lạc đều thọ trì phúng tụng kinh pháp mà được trí tuệ biện tài.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
66. XƯỚNG: Đại nguyện thứ ba mươi: Chư vị Bồ-tát ở cõi Cực-lạc đều có trí tuệ biện tài vô hạn lượng.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
67. XƯỚNG: Đại nguyện thứ ba mươi mốt: Đất đai ở cõi Cực-lạc trong sạch như gương, có thể soi thấy các Phật độ ở mười phương.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
68. XƯỚNG: Đại nguyện thứ ba mươi hai: Vạn vật ở cõi Cực-lạc đều do vô lượng châu báu và trăm ngàn thứ mùi hương vi diệu làm thành, khiến cho người nghe mùi hương đều tu Phật hạnh.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
69. XƯỚNG: Đại nguyện thứ ba mươi ba: Ánh sáng của đức Phật A Di Đà chiếu soi khắp các thế giới trong mười phương, các chúng sinh chạm được ánh sáng ấy đều cảm thấy thân tâm nhẹ nhàng an lạc.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
70. XƯỚNG: Đại nguyện thứ ba mươi bốn: Chúng sinh khắp thế giới mười phương nghe được danh hiệu đức Phật A Di Đà đều chứng được vô sinh pháp nhẫn và các pháp môn tổng trì sâu xa.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
71. XƯỚNG: Đại nguyện thứ ba mươi lăm: Những người nữ trong mười phương thế giới, nghe được danh hiệu đức Phật A Di Đà liền phát tâm bồ đề, thì sau khi mạng chung sẽ không trở lại thọ thân nữ nữa.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
72. XƯỚNG: Đại nguyện thứ ba mươi sáu: Chư Bồ-tát ở mười phương thế giới, nghe được danh hiệu đức Phật A Di Đà, sau khi mạng chung sẽ luôn tu phạm hạnh cho đến khi thành Phật.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
73. XƯỚNG: Đại nguyện thứ ba mươi bảy: Hàng trời người trong khắp mười phương thế giới, khi nghe danh hiệu đức Phật A Di Đà, liền vui mừng tin tưởng, kính lễ và tu tập hạnh Bồ-tát, thì sẽ được tất cả trời người kính trọng.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
74. XƯỚNG: Đại nguyện thứ ba mươi tám: Chúng sinh ở cõi Cực-lạc muốn có y phục, ẩm thực, thì liền có như ý.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
75. XƯỚNG: Đại nguyện thứ ba mươi chín: Chúng sinh ở cõi Cực-lạc đều hưởng được niềm vui giống như các vị tì kheo đã hoàn toàn dứt trừ hết lậu hoặc.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
76. XƯỚNG: Đại nguyện thứ bốn mươi: Chư vị Bồ-tát ở cõi Cực-lạc, nếu muốn thấy vô lượng Phật độ nghiêm tịnh trong khắp mười phương, cứ nhìn vào cây báu thì liền thấy rõ ràng như thấy mặt mình trong gương.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
77. XƯỚNG: Đại nguyện thứ bốn mươi mốt: Chư vị Bồ-tát ở các quốc độ trong các phương khác, khi nghe được danh hiệu đức Phật A Di Đà, thì được các căn đầy đủ, không bị khiếm khuyết, cho đến khi thành Phật.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
78. XƯỚNG: Đại nguyện thứ bốn mươi hai: Chư vị Bồ-tát ở các quốc độ trong các phương khác, khi nghe được danh hiệu đức Phật A Di Đà, liền được an trú nơi chánh định thanh tịnh giải thoát, trong khoảng một niệm có thể cúng dường vô lượng chư Phật mà không bị mất chánh định.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
79. XƯỚNG: Đại nguyện thứ bốn mươi ba: Chư vị Bồ-tát ở các quốc độ trong các phương khác, khi nghe danh hiệu đức Phật A Di Đà, sau khi mạng chung sẽ được sinh vào gia đình tôn quí.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
80. XƯỚNG: Đại nguyện thứ bốn mươi bốn: Chư vị Bồ-tát ở các quốc độ trong các phương khác, nghe được danh hiệu đức Phật A Di Đà, liền hoan hỉ tu hạnh Bồ-tát, cội gốc công đức đầy đủ.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
81. XƯỚNG: Đại nguyện thứ bốn mươi lăm: Chư vị Bồ-tát ở các quốc độ trong các phương khác, nghe được danh hiệu đức Phật A Di Đà, liền được an trú trong định “phổ đẳng” (thường thấy chư Phật đồng hiện tiền), cho đến khi thành Phật.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
82. XƯỚNG: Đại nguyện thứ bốn mươi sáu: Chư vị Bồ-tát ở cõi Cực-lạc đều tùy nguyện mà nghe pháp một cách tự tại.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
83. XƯỚNG: Đại nguyện thứ bốn mươi bảy: Chư vị Bồ-tát ở các quốc độ trong các phương khác, nghe danh hiệu đức Phật A Di Đà, liền tiến đến bậc bất thối chuyển.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
84. XƯỚNG: Đại nguyện thứ bốn mươi tám: Chư vị Bồ-tát ở các quốc độ trong các phương khác, nghe danh hiệu đức Phật A Di Đà, liền chứng được đệ nhất, đệ nhị và đệ tam pháp nhẫn, cùng các pháp bất thối chuyển.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Phật A Di Đà đại từ đại bi. (1 lạy)
85. XƯỚNG: Nếu ai muốn biết rõ
 Chư Phật trong ba đời,
 Nên quán tánh pháp giới,
 Tất cả do tâm tạo.
 HÒA: Một lòng kính lạy vô lượng Thánh Hiền trên pháp hội Phật nói Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm. (1 lạy)
86. XƯỚNG: Mọi pháp hữu vi trong thế gian
 Như chiêm bao, huyễn hóa, bọt nước,
 Bóng trong gương, điện chớp, sương mai.
 Thời thời nên quán chiếu như thế.
 HÒA: Một lòng kính lạy vô lượng Thánh Hiền trên pháp hội Phật nói Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa. (1 lạy)
87. XƯỚNG: Phật là đấng phước trí tròn đầy
 Thấy rõ các pháp không tự tánh
 Hạt giống Phật tùy duyên hiện khởi
 Cho nên nói giáo pháp Nhất Thừa.
 HÒA: Một lòng kính lạy vô lượng Thánh Hiền trên pháp hội Phật nói Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa. (1 lạy)
88. XƯỚNG: Các pháp hữu vi là vô thường,
 Là các pháp có sinh có diệt,
 Khi sự sinh diệt đã tiêu trừ,
 Cảnh tịch diệt niết bàn hiện tiền.
 HÒA: Một lòng kính lạy vô lượng Thánh Hiền trên pháp hội Phật nói Kinh Đại Bát Niết Bàn. (1 lạy)
89. XƯỚNG: Pháp Phật thật cao sâu mầu nhiệm,
 Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp,
 Nay con được thấy, nghe, thọ trì,
 Nguyện hiểu rõ chân ý của Phật.
 HÒA: Một lòng kính lạy Pháp Bảo khắp pháp giới, hiển bày đủ bốn khoa giáo lí hạnh quả, thể hiện qua mười hai phần giáo, gồm thâu trong ba tạng Kinh Luật Luận, thuộc cả đại thừa và tiểu thừa. (1 lạy)
90. XƯỚNG: Dung thông hai đế chân và tục,
 Dứt hai chướng phiền não, sở tri,
 Đọan trừ hai chấp ngã và pháp,
 Chứng nhập vào cảnh giới “bất nhị”.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Đại Bồ Tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi. (1 lạy)
91. XƯỚNG: Trên lí lẽ chân thật,
 Một hạt bụi không dính,
 Trong phương tiện độ sinh,
 Không bỏ pháp môn nào.
HÒA: Một lòng kính lạy đức Đại Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền. (1 lạy)
92. XƯỚNG: Thần lực Quán Thế Âm,
Không có gì sánh được,
Vô lượng kiếp huân tu ,
Cực trang nghiêm thanh tịnh.
Ngàn nơi tiếng kêu cầu,
Ngàn nơi Ngài ứng hiện.
Nơi biển khổ mênh mông,
Thường hiện thân cứu khổ.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Đại Bồ Tát Đại Bi Quán Thế Âm. (1 lạy)
93. XƯỚNG: Tánh hư không có thể tiêu vong,
 Tâm kiên cố không hề lay động.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Đại Bồ Tát Đại Lực Đại Thế Chí. (1 lạy
94. XƯỚNG: Chúng sinh độ hết mới chứng Bồ Đề, Địa ngục chưa trống thề không thành Phật.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Đại Bồ Tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương. (1 lạy)
95. XƯỚNG: Siêng tu đại tinh tấn,
Đốt bỏ xác thân này,
Đem cúng dường Thế Tôn,
Cầu tuệ giác vô thượng.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Đại Bồ Tát Dược Vương. (1 lạy)
96. XƯỚNG: Thiện hữu tri thức
 Là nhân duyên lớn,
 Giúp cho hành giả
 Mau lìa sinh tử.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Đại Bồ Tát Dược Thượng. (1 lạy)
97. XƯỚNG: Đối thế nhân, xin khởi từ tâm.
Ngày đêm an trú nơi Chánh pháp.
Nguyện cho thế giới luôn an ổn,
Phước trí vô biên lợi quần sinh,
Bao nhiêu tội nghiệp đều tiêu trừ,
Dứt hết khổ, về nơi viên tịch.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Đại Bồ Tát Nhật Quang Biến Chiếu. (1 lạy)
98. XƯỚNG: Hoa Tuệ-giác khắp chốn trang nghiêm.
Tùy trụ xứ thời thời an lạc.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Đại Bồ Tát Nguyệt Quang Biến Chiếu. (1 lạy)
99. XƯỚNG: Cúi đầu qui y phép Tô-tất-đế,
 Thành tâm đảnh lễ đấng Thất Câu Chi,
 Con nay xưng tán đức Đại Chuẩn Đề,
 Xin nguyện từ bi thường gia hộ.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Đại Bồ Tát Phật Mẫu Đại Chuẩn Đề Vương. (1 lạy)
100.XƯỚNG: Kính lạy đức đại bi Quán Âm,
 Nguyện lực rộng sâu, thân tốt đẹp,
 Ngàn tay trang nghiêm khắp hộ trì,
 Ngàn mắt sáng ngời nhìn thế gian,
 Trong chân thật nói lời bí mật,
 Từ vô vi khởi tâm đại bi,
 Đáp ứng đầy đủ mọi kêu cầu,
 Gia hộ diệt trừ các tội chướng.
 HÒA: Một lòng kính lạy vô lượng Thánh Hiền trên pháp hội Phật nói Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni.(1 lạy)
101.XƯỚNG: Bồ-tát như vầng trăng trong mát,
 Dạo chơi trong không gian mênh mông,
 Chúng sinh sạch cấu tâm thanh tịnh,
 Tuệ giác vô thượng liền hiển bày.
 HÒA: Một lòng kính lạy chư vị Đại Bồ Tát khắp pháp giới thanh tịnh rộng lớn như biển cả. (1 lạy)
102.XƯỚNG: Vạn hữu ở thế gian
 Như hoa đốm hư không,
 Không hề có sinh, diệt.
 Trong trí tuệ chân thật
 Không có hữu và vô.
 Với trí tuệ như thế
 Mà phát tâm đại bi.
 HÒA: Một lòng kính lạy vô lượng Thánh Hiền trên pháp hội Linh-sơn. (1 lạy)
103.XƯỚNG: Thần lực không lường,
 Mật hạnh khó suy,
 Uy dũng hơn trời rồng, phá tà hiển chánh,
Vâng phó chúc của Phật, hộ pháp an tăng.
 Ngưỡng mong khởi thần thông,
 Rủ lòng xin chứng giám.
 Kính lạy đức Bồ Tát Hộ Pháp Vi Đà cảm ứng khắp ba châu; Bồ Tát giám trai sứ giả Khẩn Na La; chư vị Thiện Thần bảo hộ giáo pháp và giới luật nơi các chốn già lam; tám bộ chúng trời rồng; cùng tất cả các vị thiện thần gần xa bổn tự.
 Cúi xin các ngài, không quên lời thề nguyện của chính mình, thương xót chốn phàm trần, phóng ánh sáng uy nghiêm thầm gia hộ, khiến cho những nơi chánh pháp đang lưu truyền, nội ngọai chướng đều tiêu trừ, chúng tăng hòa hợp, bạn ác ma mị vĩnh viễn tránh xa. Người người ngộ biển tánh Tì Lô, nơi nơi nhập hạnh nguyện Phổ Hiền. Cầu cho đàn na tín thí đều thấm nhuần lợi lạc.
 HÒA: Một lòng kính lạy đức Bồ Tát Hộ Pháp Vi Đà. (1 lạy)
104.XƯỚNG: Kiều Phạm Ba Đề cúi đầu lạy
 Thánh Chúng thanh tịnh đại đức Tăng.
 Voi chúa đi rồi, voi con theo,
 Đèn trước tắt, đèn sau tiếp nối.
 HÒA: Một lòng kính lạy liệt vị Pháp Sư qua các thời đại, từ xưa đến nay, từ Tây sang Đông, đã từng kết tập, phiên dịch, chú thích, giảng giải Ba Tạng giáo điển. (1 lạy)
105.XƯỚNG: Bồ đề vốn không cây,
 Gương sáng cũng không đài,
 Xưa nay không một vật,
 Chỗ nào dính bụi trần?
 HÒA: Một lòng kính lạy liệt vị Tổ Sư trải qua các thời đại, từ Tây-trúc đến Việt-nam, đã từng du hóa khắp nơi để truyền giáo và khai sơn phạm vũ. (1 lạy)
106.XƯỚNG: Thân là cây bồ đề,
 Tâm như đài hương sáng,
 Nên thường xuyên lau chùi,
 Đừng để dính bụi trần.
 HÒA: Một lòng kính lạy chư vị phàm thánh đại đức Tăng-già khắp ba đời mười phương. (1 lạy)
107.XƯỚNG: Phàm là người xuất gia,
 Lập chí thóat ba cõi,
 Thân tâm đều khác tục,
 Nối thạnh dòng giống Phật,
 Nhiếp phục mọi chướng ma,
 Báo đền bốn ơn nặng,
 Độ chúng sinh ba cõi.
 Nếu không được như thế,
 Chỉ là giả làm Tăng.
 HÒA: Thay vì Bốn Ơn Nặng, kính lạy Ba Ngôi Báu thường trú trong mười phương. (1 lạy)
108.XƯỚNG: Công đức lạy Phật rất thù thắng.
 Bao nhiêu phước đức xin hồi hướng,
 Nguyện cho chúng sinh khắp pháp giới,
 Vãng sinh cõi Phật Vô Lượng Quang.
HÒA: Thay vì ơn Chúng Sinh trong khắp pháp giới, kính lạy Ba Ngôi Báu thường trú trong mười phương. (1 lạy)

Thứ Tư, 27 tháng 2, 2019

Đọc Kinh, Trì Kinh, Tụng Kinh






PHẬT NÓI KINH BẢO SINH ĐÀ LA NI
“Nẵng mô la đát-nẵng , la thấp-di, tán nại-la, bát-la để mạn ni đá vĩ nễ-diễm, đế nhạ, cụ thế thấp-phộc la, la nhạ dã, đát tha nga đá dã, la-hạ đế, tam miệu tam bột đà dã. Đát nễ-dã tha: La đát-nễ, la đát-nẵng, cát la ni, la đát-nẵng, bát-la để mạn nị đế, la đát-nẵng tam đà ni, la đát-nẵng, bát-la nị , la đát-nỗ nột nga đế, sa-phộc ha”
Nếu có chúng sinh nào đối với danh hiệu Như Lai Đà La Ni này, thọ trì cúng dường thì đời đời người ấy được Địa Vị Chuyển Luân (Chuyển Luân Vị), thành tựu Phạm Hạnh, đủ đại Thần Thông, được mười loại Đà La Ni. Lại được gặp hằng hà sa đẳng chư Phật Như Lai mà chẳng hề có hư vọng. Trải qua câu đê kiếp thường chẳng đi vào nẻo Luân Hồi, chẳng cắt đứt hạt giống Bồ Đề, chẳng mất Tâm Bồ Đề, diệt hết tất cả tội, được Báo Thân Như Lai. Nếu có người trì tụng mãn 7 ngày thì người ấy sẽ được Thiên Nhãn thanh tịnh. Nếu người kia được nghe (Đà La Ni này) qua lỗ tai thì luôn luôn ghi nhớ và quyết định được Bồ Đề. Hết thảy mọi căn lành đã tạo được ở đời quá khứ đều được hiện tiền. Nếu truyền cho một người đã gây ra tội nghiệp Vô Gián thì tội đó đều được trừ diệt và cắt đứt hẳn sự luân hồi. Người đó chẳng bị nước, lửa, trộm, cướp, xâm hại,được đầy đủ các căn, chẳng sinh mọi bệnh, chẳng bị dính mắc Quỷ Mỵ, mọi nơi yêu kính, đời sau được thọ trì Pháp vi diệu của Như Lai, cúng dường chư Phật. Nếu có người nghe xong mà Tâm vui vẻ, lễ bái , ca ngợi thì người ấy có Công Đức vô lượng vô biên, đời đời trong miệng tỏa ra mùi thơm vi diệu bao trùm một Do Tuần. Trên thân thể, trong mọi lỗ chân lông luôn có hào quang thường tự chiếu sáng, thuờng làm mọi việc thắng lợi của Như Lai, như Ngài A Nan Đà, có đủ công đức như vậy chẳng thể luận bàn .
PHẬT NÓI KINH BẢO SINH ĐÀ LA NI (Hết)
PHẬT NÓI KINH DIỆT TRỪ NGŨ NGHỊCH TỘI ĐẠI ĐÀ LA NI
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo A Nan rằng: “Có Đại Đà La Ni có đủ Uy Đức lớn, Công Đức vô lượng hay diệt tội nặng 5 Nghịch của chúng sinh. Nếu lại có người nghe Đà La Ni này phát Tâm chí thành , hết thân mệnh này thường hay đội đeo, thọ trì đọc tụng thì người này đạt được Công Đức như trì ngàn vị Phật không có khác” Liền nói Đà La Ni là:
1-Na mô la đát-na đát-la dạ dã
2-Na mạc a lý-dã phộc lộ cát đế thuyết la dã
3_Mạo đề tát đỏa dã
4-Ma hạ tát đỏa dã
5-Ma hạ ca lỗ ni ca dã
6-Đát nĩnh tha
7-Án, truật đề
8-Vĩ truật đề
9-Tô vĩ truật đề
10-Xuy ni, bát lý xuy ni
11-Bổ sắt-bế, tô bổ sắt-bế
12-Nhạ lô hạ la ni
13-Ha la, ha la
14-Tát lý-phộc a phộc la noa nễ
15-Bát tả, bát tả
16-Tát lý-phộc bá dã tát-tha na nễ
17-Bát nội-di, bát nột-ma sất
18-Bát nột-ma vĩ xá lệ
19-Phát lệ, phát phát phát
20-Ha ha ha ha ha
21-A nghê-dã lệ, a nghê-dã lệ
22-Tất đà nhạ lệ, sa-phộc hạ
Bấy giờ A Nan được nghe Đức Như Lai tuyên nói Trừ Ngũ Nghịch Tội Nghiệp Đà La Ni xong thời hớn hở mừng vui, lễ Phật rồi lui ra.
PHẬT NÓI KINH DIỆT TRỪ NGŨ NGHỊCH TỘI ĐÀ LA NI  ( Hết. )

Thứ Năm, 30 tháng 8, 2018

Hoàn Thành Sứ Mệnh Trước Thời Hạn







HOÀN THÀNH SỨ MỆNH TRƯỚC THỜI HẠN
Mô Phật Đạo Tổ Từ Bi giáng kiết tường Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Hôm nay cũng có duyên lành, có Chư Vị các Cỏi tụ họp về các Thiên Cấm Sơn. Lâu quá T không có viết thêm hay tiết lộ về những bí mật Thiên Cấm Sơn, vì Thiên Sứ Mệnh đã hoàn thành trước thời hạn, nên nay T thu gọn lại sự nhập thế và hành Đạo rồi về Cực Lạc.
Nói về tất cả Tôn Giáo chỉ chờ 3 tiếng sấm, hay Minh Vương xuất thế để lập lại đời Thượng Ngươn, nhưng thật sự không phải vậy, thời Thượng ngươn tái lại chỉ có Tu Sám Hối ( 3 tiếng sấm chính là : Đọc Kinh, Trì Kinh , Tụng Kinh )
Thời kỳ cuối của Di Lạc chỉ đọc Kinh: Hồng Danh Sám Hối, Kinh A Di Đà Phật, Kinh Pháp Hoa  phẩm Phổ Môn,  Cúng Ngọ , Thọ Trai , Mông Sơn Thí Thực, Chẩn Tế siêu độ, Đại Bi và Thập Chú Phải thuộc lòng, Kinh Địa Tạng ( 10 lần ), Kinh Lương Hoàng Sám ( 10 lần ), những phẩm kinh trên dành cho người Sống cũng như người Chết. nếu người nào hành trì đúng như vậy, kể cả người sống thì tăng Phước Thọ, người Chết thì được Siêu Thăng  bất cứ Cỏi nào mà tâm thức người đó muốn, không riêng  gì Tây Phương Cực Lạc của Ngài A Di Đà Phật. Tuy là mấy kinh nầy đều có trong các Chùa ( Thiền Môn ) nhưng ít có ai hành trì đúng.
Thí Dụ: Như trong nhà có người mất, mà 1 người là quy định như vậy, thì người báo hiếu đó có đọc và lễ nghi có đúng như vậy được không? Hay là người bị suy sụp về tinh thần trong cuộc sống ( về tình cảm hay công việc làm ăn ) có đọc hay lễ nghi có đúng như vậy được không? Để hồi hướng công đức cho bản thân hay cho gia quyến. nếu làm được như vậy, tội nào không diệt, phước nào không sanh?
Trong thời gian hành Đạo, T không quên cảm niệm Công Đức Chư Tôn Thiền Đức và các mạnh thường quân, thân bằng quyến thuộc, cùng gia đình Hậu Huệ Minh đã tiếp lực cho T để dương Cờ ẤN PHẬT VƯƠNG và ẤN ĐẠO TỔ lên cho thời Thượng Ngươn có chung một mối Đạo Dân Tộc trên toàn Thế Giới trong thời cuối nầy.
MÔ PHẬT ĐẠO TỔ TỪ BI
HOÀN thành sứ mệnh ở Ta Bà
THÀNH Tâm Mật Niệm chứng Ma Ha
SỨ Mệnh Phật ban thập phương xá
MỆNH Hoàng xuất thế Di Lạc Ta.



Thứ Ba, 30 tháng 5, 2017

Tập một tiểu sử Trần An

Lịch Sử Chánh Tông Gia Tộc Vua Trần ( Gia Phả Nhà Trần )
Theo thăm dò của Viện Hàn lâm Khoa học Thế Giới, tháng 1 năm 2006, họ Trần đứng đầu về khoa học tâm linh của Thế Giới nói riêng của Vũ Trụ nói chung. Đa số các Vua Trần và các Vua khác của Việt Nam đều tái sanh ở nước ngoài, riêng đời Vua Trần cuối cùng tái sanh ở Việt Nam thời kỳ cuối nầy, và sẽ liên lạc kết nối lại các Vua Việt Nam đã tái sanh ở nước ngoài để Bình Thiên Hạ. 
Trần Thiếu Đế ( Trần An ) => Trần Thiếu => Triều Thuấn => tức Vua Ngư Thuấn tái sanh
Thiếu Đế => Thế Điếu => Thế => Thế Gian; Điếu => Cúng  tế, ( Thế gian cúng tế vị nầy vì thành Phật Tại thế thời kỳ cuối để trã ơn các triều vua đã qua gọi là Trần An => Tràn Ân )
12 vị Vua Trần do 12 Như Lai của Ánh Hào Quang từ An Dưỡng Quốc Cực Lạc do Ngài A Di Đà phóng ra, đó là: Vô lượng quang, vô biên quang, vô ngại quang, vô đối quang, diệm vương quang, thanh tịnh quang, hoan hỷ quang, trí huệ quang, nan tư quang, bất đoạn quang, vô xưng quang, siêu nhật nguyệt quang
Trần Thiếu Đế  là vua thứ 12 và là vua cuối cùng của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam, tên húy là An sinh tại kinh đô Thăng Long, Hà Nội, Việt Nam.
Vua Trần An ( Đại Sư : AN LẠC dòng tu Mật Tông, dòng Đạo Tổ chánh tông phái Thiên Đồng)
Sinh năm 1396
Vãng sanh: 15.12.1445
An Táng: Thôn An Mỷ, Xã Mỷ Cát, huyện Phù Mỷ, Tỉnh Bình Định, Việt Nam
Trụ Vì 1398- 1400
Tiền nhiệm Trần Thuận Tông
Tên húy  Trần An
Niên hiệu Kiến Tân (1398 - 1400)
Thụy hiệu Thiếu Đế
Triều đại Nhà Trần
Lúc Thiếu Đế lên ngôi, Thượng hoàng Trần Nghệ Tông đã băng hà, quyền thần Hồ Quý Ly, cũng là ông ngoại Thiếu Đế, càng nôn nóng muốn tước đoạt ngôi vị họ Trần. Năm 1400, Thiếu Đế bị buộc phải nhường ngôi, sự kiện như Hán Hiến Đế Lưu Hiệp nhường ngôi cho Tào Phi.
Thiếu Đế bị phế nhưng vì là cháu của Hồ Quý Ly nên không bị giết, chỉ bị giáng xuống làm Bảo Ninh đại vương (保寧大王), Triều đại nhà Trần chính thức bị soán vị sau 175 năm trị vì Đại Việt. Vua Trần An được Tể Tướng Nguyễn Cảnh Sang cùng Vợ là Trần thị kim Quý cùng các con trong triều đưa vào Bình Định sinh sống đến năm 1425 Vua Trần An cùng tỳ tùng hơn 10 người dùng thuyền đi theo đường biển vào Nam tức vùng biển Ba Tri bây giờ, từ vàm Ba Lai lên ấp Thạnh Hải ( có Chùa Hải Lâm ), ấp Thạnh Khương ( có Chùa Đức Lâm ), xã Bảo Thuận bây giờ. Chổ nào Vua Trần An đặt chân đến cũng để dấu tích một tượng Quan Âm vì Vua Trần An tôn thờ Tổ Tông khai sáng lập nên Trần Triều là Trần Cảnh tức là Vua Trần Thái Tông đều tôn thờ Phật Giáo dòng tu Mật Tông, dòng Đạo Tổ chánh tông phái Thiên Đồng) sau đó Vua Trần An cùng tỳ tùng đi đến thôn Hòa An của Sóc Tre, tức là ấp 6 xã Châu Bình huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre ngày nay, ở tại vùng đất nầy trước kia có rất nhiều thú dữ, đặc biệt là Ông Hổ ( Ông Ba Mươi ) tức là Ông Cả, để thuần phục vùng đất nầy Vua Trần An và tỳ tùng ở lại chổ đất nầy lập cái miếu thờ Vua Trần Triều đặc biệt là Trần Thái Tông đặt tên Miếu là Thái Miếu. sau Thái Miếu nầy Vua Trần An cho xây một ngôi chùa đặc tên là Vạn An cho nên người dân trong Sóc Tre có câu rằng: rồi đây trước miểu sau chùa, đem thân lễ Phật xin Bùa về đeo, ý nghĩa là xin Lộc Vua thành Phật ( ấn Trần Triều ) về đeo. Bên phải ngôi Chùa Vạn An, Vua Trần An có cho trồng một bụi tre vàng, do chính tay Thiền Sư Hòa Thượng: Bảo Lâm trồng, Bảo Lâm Hòa Thượng tái sanh hiện nay là Thượng Tọa: Thích Đạt Trí vì nhiều kiếp bôn ba tái sanh, nên quý ngài không nhớ lại tiền kiếp, vì đời mạt hạ, tu tập không được như xưa nên quên mất căn bổn xưa kia, riêng Thầy được tu luyện và được thọ Pháp đặc biệt của ngài Đạt Lai Lạt Ma, Hòa Thượng Trí Tịnh, Hòa Thượng Phổ Tuệ và sự tin tấn, tin sâu nguyện thiết nên Thầy nhớ lại tiền kiếp và soi lại cho mọi người cùng kiếp của Thầy. từ khi Vua Trần An ở vùng đất nầy với sự tin tấn tu hành đã Đắc Đạo nên Vua Trần An cho đổi tên Sóc Tre thành Bến Tre, để tưởng nhớ Bụi Tre mà Vua Trần An đã ngồi Đắc Đạo, Vua Trần An ở đây đến năm 1429 Vua giao đất Miếu, Chùa lại do đệ tử ở đây trong coi, Vua và tỳ tùng trở về Bình Định để tìm Trần Quốc Vượng là người giữ kho báu của Trần Triều, khi về gặp người giữ kho báu, Vua Trần An giao phó và lập kế hoạch sắp tới, nhưng người giữ kho báu đi về Thăng Long lâu quá không thấy trở về Bình Định, thì ra người ấy bị lộ, nên dùng thuốc ướp xác cùng các trinh Nữ ướp xác giữ kho báu chết luôn xung quanh kho báu. Nói về Miếu thờ Vua đầu tiên khai sáng Trần Triều là Trần Cảnh tức Vua Trần Thái Tông còn gọi là:
Thống Thiên Ngự Cực Long Công Mậu Đức Hiển Hòa Hựu Thuận Thần Văn Thánh Vũ Nguyên Hiếu Hoàng Đế
Lấy tên miếu thờ là: Thái Miếu ( Thái Tông )
Những người không hiểu lịch sử nên gọi Thái Miếu nầy của dòng họ Thái, vì tranh chấp quá gây gắt làm chấn động đến triều đình thời bấy giờ, nên Vua Minh Mạng cho tàn phá tất cả, cho đến thời chiến tranh Pháp, Mỷ. đất nầy được sở hữu của ông Trần Văn Hơn và bà Huỳnh Thị Đông có 6 Liệt sỉ, nay đất nầy thuộc chủ quyền của Trần Văn Chờ là người anh của Thầy. Thầy chỉ ghi vắn tắt để biết nội dung lịch sử từ đâu có chử từ Sóc Tre chuyển thành Bến Tre.
SÓC Tre Phù Nam thuộc Champa
TRE vàng năm sắc đắc quả mà
BẾN Tre hiện nay thành Vương xá
TRE vàng Di Lạc tọa Long Hoa
Giải thích:
Bến Tre hiện nay thành Vương xá tức là chủ tịch Quốc Hội là người Bến Tre ( Hữu Hình )
Tre vàng Di Lạc tọa Long Hoa tức là Long Hoa Giáo Chủ Đương Lai Hạ Sanh Di Lạc Vương Tôn Phật ( Phật Hoàng Trần An ) vô hình cũng là người Bến Tre. Với thuận duyên là Hậu Duệ cũng nhà họ Trần tái sanh.

Đây là tập I ( một ) đoàn làm phim chuẩn bị quay .

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2016

Đạo Pháp Nhiệm Mầu

ĐẠO PHÁP NHIỆM MẦU
ĐẠO Pháp nhiệm mầu khắp thế gian
PHÁP mầu linh hiển đến Niết Bàn
NHIỆM mầu Chánh Pháp thập phương tán
MẦU nhiệm Đạo Pháp tỏa Liên Bang.
Mô Phật Đạo Tổ Từ Bi gia hộ cho cả nhà tam giới thân tâm an lạc kiết tường như ý, nguyện gì cũng được làm gì cũng thành.
Trong những ngày vừa qua Thầy vừa lo chuyện vô vi ( chuyện đương lai ) vừa lo đọc kinh, trì kinh, tụng kinh và trì chú hồi hướng cho những Phật tử vừa vãng sanh về Cực Lạc, trong đó đặc biệt có Phật Tử từ căn bệnh vãng sanh nhẹ nhàng an lạc, lúc cận tử nghiệp Phật Tử phát tâm và nghe tiếng niệm Phật đến lúc vãng sanh một cách an lạc. với niềm tin thật tuyệt đối từ gia đình Phật tử nầy, để đáp lại lòng tin và ngưỡng nguyện của gia đình Phật Tử, Thầy đã đến cúng và lo hậu sự đến lúc hoàn mãn, thì Thầy đã cúng suốt trong 21 ngày gồm ( Hồng danh bửu sám, kinh A Di Đà, Kinh Phổ Môn, Trì Đại Bi và Thập Chú, Cúng Ngọ, 10 quyển Kinh Địa Tạng, 10 quyển Kinh Lương Hoàng Sám ) đến nay đã hết 21 ngày Thầy đã hoàn thành đưa Hương Linh Phật Tử nầy về Di Lạc cung, cõi an lạc vĩnh viễn. và Phật Tử được nhận bài Pháp về đến cõi an lạc là:
THỊ nhìn an lạc chốn Từ Bi
MƠ về chín phẩm chốn A Mì
PHÚC hạnh trang nghiêm thập phương ký
LIÊN từ Di Lạc tọa Liên Mi.
Nếu quý vị niệm Phật khi cận tử nghiệp đến khi vãng sanh, thì chỉ về đến cõi an lạc Cực Lạc, về đến nơi còn phải tu niệm trã nghiệp dần dần, cho đến lúc hết nghiệp, quý vị nào vãng sanh mà được gia đình hay Thầy Tổ chăm lo cho Phật Tử của mình thì chuyên tâm trì niệm như Thầy nói trên, thì thoát hẳn vòng sanh tử, nếu đọc kinh , trì kinh, tụng kinh, mà còn đọa địa ngục hay không hết nghiệp thì Thầy ra chịu thế. Thật sự như vậy, Thầy mong được ở không, lo đọc kinh, trì kinh, tụng kinh, là phước báu của Thầy nghìn đời Chư Phật để lại. Thầy đọc kinh riết rồi ghiền, như ăn một món ăn ngon, cắn ngập răng vậy, Thầy rất sung sướng khi đọc kinh có linh ứng cứu được một người nói riêng, cứu những chúng sanh còn vất va vất vưỡn nói chung, được đến cảnh an lạc quý lắm luôn. Khi Thầy chú tâm vào những việc nầy thì những chuyện bon chen của thế sự ( tham sân si ) không còn tồn tại trong thân tâm nữa, mỗi lần Thầy đọc kinh xong là chỉ biết kiếm chổ nằm nghĩ cho khỏe trong một giấc ngủ an lạc với câu châm ngôn rằng:
Đạo là nếp sống tùy duyên
Đói ăn mệt nghỉ an nhiên tâm hồn.
Thầy cũng mong rằng quý vị tín Đạo Pháp nên thực hành như vậy, để khi vô thường đến thì thân tâm chúng ta lúc nào cũng an lạc ở Cực Lạc.
Mô Phật Đạo Tổ Từ Bi.

Thứ Tư, 21 tháng 9, 2016

ĐẠO BON => ĐẠO TỔ => ĐẠO GIÁO THIÊN ĐỒNG
ĐẠO Giáo thông thiên vũ trụ đồng
GIÁO duyên phàm thánh sánh hư không
THIÊN ban sắc lệnh quyền nhất thống
ĐỒNG danh đồng hiệu chứng hư không
Nam Mô Long Hoa Giáo Chủ Đương Lai Hạ Sanh Di Lạc Vương Tôn Phật