Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

Phật Pháp nhiệm mầu lần thứ 20 Hành trình vào hang Bác Vật Lang



Phật Pháp nhiệm mầu lần thứ 20
Hành trình vào hang Bác Vật Lang
Khi chúng ta quay trở lại cúng ở trụ điểm, trung tâm điểm chúng ta đi xuống chính giữa trung tâm trong hang khoảng 10 mét, thì tới một hang rất rộng gọi là tầng thứ 5, ở đây thật là mầu nhiệm, sự mầu nhiệm ở đây không thể nói lên giấy bút được, ở đây chúng ta thấy tất cả các tầng của    Trụ, các thứ châu báu trong kinh A Di Đà đều chiếu diệu sáng choang, tất cả Như Lai đang Thuyết Pháp, đẹp như trong tranh Cực Lạc vậy, cai quản ở đây cũng có vị 84.000 tuổi thọ, và 18 vị Cao Tăng, đang làm việc như những hang mà chúng ta vừa đi qua, ở đây thờ NGÀI DIỆU SẮC THÂN NHƯ LAI, ở đây chúng ta có thể quan sát thấy được bảy tầng Như Lai thuyết Pháp, để cho chúng ta lìa các sự sợ hãi các cõi. Đạt được Bi Trí Dũng có sức lực đại hùng, đại lực, đại bi của nhà Phật vượt qua các chướng ngại vật mà tiến tu trên con đường giải thoát mà thấy Đạo.
Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai
Nghe danh của Đức Diệu Sắc Thân Như Lai, hay đặng cái thân tướng hảo đoan nghiêm bực nhứt giữa tam giới, tức kinh Pháp Hoa bảo:"Vi diệu tịnh pháp thân, cụ túc tam thập nhị" Nói lên cách thức tu luyện công đức để đạt được kim thân với đầy đủ phước đức của trời người với hiện lên 32 sắc hảo tướng trang nghiêm, áp dụng luôn cho các sinh vật khác (chúng sanh khác) trong và ngoài trái đất. Phạn ngữ Abhidhamma có nghĩa là những giáo lý cao siêu, vi diệu, thù thắng, vượt trên tất cả, vô thượng (không có gì cao hơn). Vi Diệu Pháp là đề cập đến giáo lý tinh hoa của Ðức Phật
Thế giới hay vũ trụ dù rộng lớn bao nhiêu cũng không ngoài 4 thứ: Sắc (vật chất), Tâm (Tâm Vương), Tâm Sở (Các trạng thái thuộc tâm như Thọ Uẩn, Tưởng Uẩn, Hành uẩn) và Phi Danh Sắc (Niết Bàn).
Vi Diệu Pháp chia và giảng chi tiết về 4 đối tượng này một cách sâu sắc với phương châm "Không có cái tôi". Vi Diệu Pháp là mộn học không đề cập đến "cái ngã". Như các định luật vật lý, hóa học, sinh học...xảy ra độc lập với "cái ngã" thì Vi Diệu Pháp nghiên cứu về các khía cạnh vật chất (Sắc Uẩn) giống như vậy. Còn về Tâm và Tâm Sở, Vi Diệu Pháp có vẻ giống Tâm lý học nhưng hoàn toàn khác với tâm lý học ở nhiều khía cạnh. Tâm lý học phục vụ cho "sự mưu cầu" lợi ích thì Vi Diêu Pháp phục vụ cho việc "mưu cầu lợi ích" và "vượt lên mưu cầu lợi ích".
Ở đây chúng ta nhìn thấy được các pháp thuật tu hành để đạt được diệu sắc thân biến hiện, trong các cõi, các nơi và tùy lúc, và có cách hóa giải các nan nghiệp oan gia bằng cách tu luyện để đạt tâm vương tức là Tâm Phật, chúng ta có thể đi ngược lại quá khứ và về vị lại những chuyện xãy ra sắp tới, những sắc lệnh được thờ nơi đây đều có sự khắc khe của người thọ dụng, không được tùy tiện truyền thụ. Những chuyện trong phim của Ngài Đạt Ma sư tổ sử dụng, như dùng cọng cỏ đi trên nước, dùng chiếc giày để hóa thân khi chôn cất, dùng hạt hạnh để biến hóa thân, thì ở đây chỉ là một phần nhỏ,
Còn những chuyện siêu phàm không thể nghĩ bàn, không thể có bút mực nào tả cho hết.
Mổi vật đều có một chử cái và một câu thần chú, cách làm và cách giải đều có ghi rỏ.
Như cuốn Thiên Bửu kinh có 1000 thế yếm và truyệt mạng, cũng như lập đàn cúng binh thế trận, như lấy đậu, gạo, hay bất cứ vật gì cũng đều làm binh khiển tướng được hết.
Và cuốn Thông Thiên Bửu Kinh là cuốn để hóa giải tất cả những ách nạn oan gia của Tam Thiên Đại Thiên thế giới. Quý vị thường thấy các vị ở núi hay dùng những phần nhỏ nhoi và không có ấn sắc lệnh mà vẩn hiệu nghiệm đôi phần, Như yếm cho một cơ quan phá sản, hàng quán tiệm ế ẩm, yếm người bệnh, thư người chết, yếm cho trùng tang, yếm cho thắt cổ, uống thuốc tự vận, nhảy sông tự vận, ôi thôi. Lu xu bu về những chuyện nầy. Thời bây giờ còn hiện đại hơn, các bác sỉ bỏ thuốc mê, thuốc ngủ, thuốc kích dục, ete gây mê, gây nghiện, hay tung tin đồn nhảm bêu xấu người, vì biết người ta không chấp lời thị phi tiểu nhơn làm, nếu làm quá mức giới hạn chịu đựng của người thì người ta sẽ trã lại một lời nguyền thì những gia đình tiểu nhơn nầy bị liên lụy trùng tang liên táng, tán gia bại sản tới 7 đời, ôi thật là thế giới hổn độn của tham sân si của con người phát khởi.
Ở đây có thờ 18 sắc lệnh lớn nhỏ, đặc biệt nhất là sắc lệnh Linh Tàng Bảo Lộc( Lục ), ai được sắc lệnh nầy, và tu luyện thông thạo thần chú đủ số biến số ngày, có khả năng biến hiện khắp nơi, có thể biến hóa những vật dụng bình thường theo ý muốn. gọi là ba mươi hai tưởng hảo hiện ra, lời nói của vị tu luyện thành công thì linh ứng vô cùng, còn hơn Lỗ Ban Sát nữa.
Hữu duyên Thầy đã sử dụng qua một lần, một chiêu thuật đơn giản ai cũng làm được, có một lần Thầy đi lên Chùa Vĩnh Tràng ở Mỷ Tho Tiền Giang, đúng vào ngày cúng Trai Tăng nên khách đông lắm, lúc nầy hai hàng Phật Tử đứng làm hàng rào đón Tăng đoàn, Thầy đứng xem, vì Thầy đi tham quan, Thầy mặt đồ bình thường nên không ai để ý, xung quanh bên ngoài toàn là ăn xin, từ trẽ đến già đều có, đông quá trời, khi nghe tiếng xin ăn Thầy thấy đau buồn cho xã hội chúng ta sao còn chuyện nầy nhiều quá, việc xóa đói giảm nghèo đã xóa, sao nay lại càng nhiều hơn, quý vị ăn xin nầy cứ đến các vị Phật Tử đứng xếp hàng mà xin, bất kể Tăng Ni hay ai đi qua họ cũng A Di Đà Phật rồi xin, có một cụ già đến nắm tay một cô tuổi trung niên, cô ơi cho già nầy xin vài chục ngàn mua gạo, thì cô ta trã lời với cụ già với giọng gắt gao, Bà có biết hôm nay là ngày gì không? là ngày cúng trai Tăng đó, không phải cúng cho bà, Thầy thấy cảnh tượng nầy nên Thầy đến kéo Cụ Già ra, cô ta la luôn Thầy, trai tráng như vầy mà để bà già đi ăn xin hả, không biết nhục sao? Của đâu mà bố thí cho hết nguyên làng ăn xin nầy? Thầy mới nói Cụ đứng đây chờ con một chút, Thầy đi ra mua một tấm bảng và cây viết lông, Thầy viết lên bảng là: Tôi là Xin Ăn khắp năm châu, nếu ai muốn giàu sang, muốn khá lên, cải số mệnh thì tới xin tôi, Chú Ý: Tôi không nhận tiền đưa trơ trẽn, mà bỏ vô bao thư đàng hoàng, xin tôi mới cho lộc. Tất cả mọi người ai nhìn tấm bảng cũng cười, nhất là đồng nghiệp ăn xin, ha ha ha
Một hồi lâu có vị Tăng trong Chùa ra hỏi Thầy ở đâu mà tới đây xin, biết ở đây toàn là ăn xin quen biết không? Thầy mới nói: Ha Ha Chú nên về nhà rút rơm cho bò ăn đi, và chăm sóc Bà Nội Chú, Bà Nội chú dạo nầy khổ lắm, lớn tuổi rồi không ai nuôi dưỡng, phải đi xin gạo hàng xóm để kiếm sống qua ngày, từ khi ba mẹ chú mất chú còn nhỏ được gởi vào chùa cho ăn học, cho đến nay mà không nhớ quê hương xứ sở, chỉ có Thầy Trụ Trì mới biết chuyện nầy thôi, thế là vị Thầy nầy la lên om sòm, ăn xin mà nói lung tung, kêu bảo vệ đuổi Thầy và Cụ Già ra khỏi cổng, Thầy và Cụ ra trước cổng cũng ngồi đó chờ vị trụ trì, thì vị Thầy đó vô bên trong chùa còn nói lảm nhảm sao tới tai của vị Trụ Trì, Vị Trụ Trì hiểu rỏ sự tình, vị ấy hỏi, thế hai người ăn xin đó đâu rồi? Phật Tử chỉ ra ngoài cổng, thế là vị Trụ Trì đi ra thấy vậy hỏi, chú ở đâu mà tới đây xin, sao biết chuyện của chúng tôi trong Chùa, Thầy nhìn vị Trụ Trì và nói, muốn biết ta ở đâu? Thì hãy bỏ tờ 500.000 xanh vào bao thư đi, và ghi cho ta biết pháp danh rồi ta sẽ trã lời. Vị Trụ Trì nầy cũng có tiền nên cũng tò mò xem sự việc thế nào? Khi vị nầy đưa bao thơ xong, Thầy lấy viết ghi một bài thơ và mấy câu giải thích, Thầy đưa cho vị Trụ Trì , vị nầy xem xong lật đật A Di Đà Phật lia lịa, mời Thầy và Cụ Già vào Chùa, và bắt vị Tăng vừa rồi vào phòng riêng gặp Thầy và Cụ Già sám hối, vì Cụ Già nầy chính là Bà Nội của vị Tăng nầy, thế là Phật Tử bắt chước Vị Trụ trì, bỏ tiền vào bao thư ghi tên tuổi pháp danh, đưa cho Thầy, xem Thầy nói thế nào? Cứ như vậy tấp nập hết người nầy đến người kia, mà cô rầy la cụ già hồi nãy lại cho tiền nhiều hơn mọi người nữa chứ, gần một buổi mà Thầy có gần 30 triệu trong tay để xây căn nhà tình thương cho Cụ già nầy rồi, đúng là nhiệm mầu, Thầy đã dùng một chiêu sách nhỏ của Linh Tàng Bảo Lục, còn gọi là hiểu được ý nghĩ và hành động của người khác, nên nói ra ai cũng giựt mình, chỉ được phép cứu người thôi, chứ làm tư lợi riêng cho mình thì lảnh hậu quả không lường được. Thầy tiết lộ cho quý vị biết bài thơ Thầy viết cho Vị Trụ Trì là:
NHƯ Lai xuất thế giáng lâm trần
GIỮA miền cực lạc xuống thần dân
ĐỐNG đổ tanh hôi người sinh tấn
RÁC rồi cũng sạch Phật hiện thân
Còn tên của vị ấy Thầy không tiết lộ, vì giữ bí mật nhà Thiền chút xíu.
Qua câu chuyện có thật Thầy kể trên, Thầy cầu chúc cho quý vị tin tấn tu hành đạt được phẩm vị cao nhất, để trên thành Phật Đạo dưới độ sinh linh và tử linh.
Nam Mô A Di Đà Phật giáng lâm Chứng Minh
XÃ HỘI KHOA HỌC PHẬT GIÁO DỤC
Đạo Pháp – Dân Tộc – An Lạc
Vương Quốc Vạn An
Liên Tông Cửu Long Kim Pháp
Đạo Giáo Thiên Đồng
Phật Hoàng Trần An
Gia Tộc Vua Trần
Tác giả: MẬT ẤN TỊNH THỌ
( Geshe Rinpoche: Thích Quảng An )

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

Phật Pháp nhiệm mầu lần thứ 19 Hành trình vào hang Bác Vật Lang



Khi chúng ta quay trở lại cúng ở trụ điểm, trung tâm điểm chúng ta đi xuống chính giữa trung tâm trong hang khoảng 10 mét, thì tới một hang rất rộng gọi là tầng thứ 4, ở đây thật là mầu nhiệm, sự mầu nhiệm ở đây không thể nói lên giấy bút được, ở đây chúng ta thấy tất cả các tầng của    Trụ, các thứ châu báu trong kinh A Di Đà đều chiếu diệu sáng choang, tất cả Như Lai đang Thuyết Pháp, đẹp như trong tranh Cực Lạc vậy, cai quản ở đây cũng có vị 84.000 tuổi thọ, và 18 vị Cao Tăng, đang làm việc như những hang mà chúng ta vừa đi qua, ở đây thờ NGÀI QUẢNG BÁC THÂN NHƯ LAI, ở đây chúng ta có thể quan sát thấy được bảy tầng Như Lai thuyết Pháp, để cho chúng ta lìa các sự sợ hãi các cõi. Đạt được Bi Trí Dũng có sức lực đại hùng, đại lực, đại bi của nhà Phật vượt qua các chướng ngại vật mà tiến tu trên con đường giải thoát mà thấy Đạo.
Nam Mô Quảng Bác Thân Như Lai
Nghe danh Đức Quảng Bác Thân Như Lai, thì đặng tiêu được lửa nghiệp, cuống họng mở thông mà đặng cái thân thanh lương vô ngại.
QUẢNG BÁC THÂN NHƯ LAI
Quảng => Quảng Đại rộng lớn bao trùm Vũ Trụ
Bác = Bác – C = Bá => là nhiều vô số kể, hằng hà sa sự rộng lớn.
Bác – B = Ác => sự ác độc của xã hội nhơn loại làm những việc trái lương tâm, dẫn đến nhơn sinh đến đường cùng bế tắc.
Thân => đây là thân mệnh của mổi sinh linh, dùng sự đấu tranh sinh tồn và tiến lên con đường học Đạo
Khi chúng ta nhắc đến danh hiệu Ngài Quảng Bác Thân Như Lai như nhắc lại, đọc lại, tụng lại một câu thần chú để tiêu trừ căn nghiệp ác của chúng ta, vì chúng ta có một thân, có ba hồn, bảy vía, chín vía, sẽ định lại không làm điều ác khởi trong tâm chúng ta, cũng như tâm chúng sanh.
Thí dụ: Đây là thí dụ thực tế, chính bản thân Thầy đã trãi qua, từ cuộc sống hiện tại đời thường cho đến nơi Tam Bảo, một nhơn sinh cũng có đủ, các thứ cái ác lẫn cái thiện, ai cũng làm được điều nầy. chúng ta đang tiến hóa lên cấp độ hiểu biết sinh tồn cao hơn, nếu ai có duyên thì liễu ngộ một câu kinh hay một lời nói của một vị nhơn sinh hay vạn vật thì chúng ta có thể thành chánh đẳng chánh giác, luôn làm điều thiện, xóa bỏ được điều ác, tập tánh nhẫn ôn hòa được thì chúng ta đã đạt được và hòa đồng với ngài: Quảng Bác Thân Như Lai, nếu chúng ta giữ tâm niệm ở cõi Ta Bà nầy, không muốn tái sanh và tiến hóa đi cõi khác cao hơn thì chuyên làm chuyện ác, mà chưa chắc được như ước nguyện vì những chuyện ác nầy sẽ theo nghiệp nhơn quả mà trã, chúng ta muốn làm người mà tạo nhiều ác nghiệp sẽ tái sanh làm thú ( súc sanh ) ngạ quỷ, địa ngục khổ sở trăm bề. trên Google một người chúng ta có ba, bốn nick, Gmail, không hình, không thật tên, không địa chỉ chính xác, thì chúng ta cũng tạo một Tâm Ác xão trá lương tâm rồi, dù có tụng muôn kinh vạn điển, dù suốt đời Niệm Phật cũng không xóa nỗi những vết nầy.
Trên Google nầy Thầy đã dùng người thật việc thật, lấy thân mạng của Ngài Quảng Bác Thân Như Lai để xóa những cái ác, hay nói lên dùng ác trị ác, thì có nhiều nick mới giã danh chưởi bới, phân biệt Tôn Giáo, phân biệt đồng loại. Thầy đăng bài lên hay hình ảnh lên đều có ý nghĩa trước và sau của sự sinh tồn của nhơn sinh, đây là một thí dụ thực tế.
Tại sao chúng ta Nghe danh Ngài Quảng Bác Thân Như Lai, thì đặng tiêu được lửa nghiệp, cuống họng mở thông mà đặng cái thân thanh lương vô ngại. vì chúng ta sống trong xã hội đấu tranh sinh tồn, thượng đội hạ đạp, không biết hòa đồng thương nhau dù cho ăn ngủ chung giường cũng chưa chắc gì hòa thuận với nhau, ôi thôi cái khổ trăm bề không bao giờ giấy bút nào ghi cho hết, chỉ bằng mình tin tấn hướng thiện niệm danh các vị bề bên cầu giúp đở của muôn loài thì mình mới được ăn nói thoải mái, thì đặng tiêu được lửa nghiệp, cuống họng mở thông mà đặng cái thân thanh lương vô ngại.
Thầy đã nói sơ qua về ý nghĩa danh hiệu của Ngài Quảng Bác Thân Như Lai, tiếp theo Thầy sẽ nói sự mầu nhiệm của tầng thứ 4 nầy, ở đây thờ tất cả sắc lệnh về giải phá các nghiệp báo của các cõi.
Thí dụ ở cõi ta bà nầy, khi có một người chuẩn bị chết, chúng ta phải chuẩn bị tinh thần làm thủ tục để siêu độ cho người nầy về thế giới tâm linh cao hơn, và được an lạc hơn.
Thứ nhất chúng ta phải thanh tịnh, đốt 4 cây đèn cầy bốn góc người chết nằm, và trì chú chuẩn đề vào nước để rãi trên và xung quanh xác chết để linh hồn của người chết không bị dành giựt.
Thứ hai có sắc lệnh trị quan tài, vì quan tài đóng rồi lâu ngày sẽ có âm khí, và ngày ráp quan tài không trúng ngày hoàng đạo tốt, cung mạng của quan tài thước tấc không hạp với người chết.
Cách trị quan tài :
Viết sắc lệnh: Ai là Sám Chủ Cúng đám, ai là Trai chủ ( Tang chủ ) sẽ hóa giải tất cả oan gia nghiệp chướng trái chủ với quan tài, người chết, trai chủ, sám chủ, và toàn thể gia quyến, vì quan tài như chiếc xe chuẩn bị chạy thì chúng ta phải kiểm tra xăng nhớt và bộ máy cũng như toàn thể chiếc xe có an toàn không? quan tài từ chổ đi và chổ đến nơi nào? Vị Phật, chúa hay đấng thiêng liêng nào tiếp dẫn và nhận. Trong quan tài có 7 đèn cầy ly màu trắng hay màu gì tùy ý. Tượng trưng cho thất tinh soi chiếu xóa hết oan gia nghiệp chướng, còn dưới đáy quan tài để 3 đèn cầy ly hoặc đèn tượng trưng cho Thiên Địa Nhơn hòa, những đèn cầy nầy xếp như sau:

Đèn                 Đèn

            Đèn
           
            Đèn

            Đèn

Đèn                 Đèn

Đó là hình xếp của những cây đèn cầy trong quan tài

            Đèn

            Đèn

            Đèn
Đây là ba cây đèn dưới đáy quan tài.
Đốt đèn xong vị sám chủ cùng 2 người hoặc 4 người hoặc 6 người cùng đi quanh quan tài rãi nước tịnh thủy được trì chú, có đốt sắc lệnh vào ly nước. đọc chú chuẩn đề, đi ba vòng xong trở vế Bàn Thờ Phật
Làm lễ nhập mạch, có đốt sắc lệnh nhập mạch, nhập mạch xong, đốt sắc lệnh phát tang xong, đốt sắc lệnh phục hồn cúng cơm xong, thỉnh vong qua bàn Phật cúng cầu siêu đốt sắc lệnh, Sắc lệnh động quan tài chuẩn bị đi chôn, sắc lệnh trình tổ đường, sắc lệnh cáo đạo lộ, sắc lệnh trị huyệt, sắc lệnh báo cáo Thổ địa thần giữ mồ mã, sắc lệnh an sàng, sắc lệnh khai mộ, sắc lệnh cúng tuần từ 1 đến 7 tuần là 49 ngày, sắc lệnh 100 ngày, sắc lệnh 1 năm, sắc lệnh 2 năm….
Người chết chuyển kiếp nầy cũng như đi qua hải quan lên máy bay vậy. đi qua phương khác lập nghiệp vậy. dù có làm quan hay tu cở nào cũng phải đủ thủ tục. chỉ riêng những người biết ngày biết giờ chết, thì người ta đã hoàn thành thủ tục sớm, người ta tự đi rồi. đó là nói sơ qua sự giải nghiệp chết tùy theo sắc lệnh, nào oan gia nghiệp chướng cúng cầu an, bệnh hoạn, hay những nghiệp khác, nhiều bao nhiêu thì chúng ta phải viết sắc lệnh giải bấy nhiêu, ở dương trần, một người bệnh vào bệnh viện phải đủ giấy tờ, khâu nào cũng có giấy, cuối cùng là toa thuốc, thì cõi âm cũng vậy.
Thầy đã khai mở tiết lộ cho nhơn sinh hiểu rỏ cách thức hành chánh của cõi âm cũng như cõi dương, nhưng nhiều người trong những Tôn Giáo cho Thầy là cổ hủ, còn thờ phụng thần thánh ma quỷ, đây không phải thờ phụng Thần Thánh ma quỷ mà là trọng nhơn sinh các cõi đang làm việc, nếu chúng ta vô một cơ quan nào muốn gặp giám đốc thì trước tiên phải qua Bảo vệ trình giấy, sao đó thư ký giám đốc hay ai đó chúng ta cũng trình giấy rồi mới gặp giám đốc, mà chưa chắc gì được gặp nữa. Thầy đã đem thân và con đường tu của Thầy ra thí nghiệm cho nhơn sinh thấy, theo lời Phật dạy trong các kinh sách đã được dịch lại, không quy y làm theo các cõi Thần Thánh ma quỷ hay tôn giáo khác, chỉ có Phật thôi, không quy y mà làm theo mệnh lệnh của nó thì chẳng khác nào đã quy y nó rồi, bị nó đè đầu cởi cổ mà chẳng dám chống lại, bị vu oan dá họa chụp mũ phủ đầu, mà thân mổi nhơn sinh đều thấp cổ bé họng biết đâu mà cầu cứu giải oan, chỉ có cách là xã bỏ thân nầy lập nên lời nguyền rồi rốt ráo tu hành cho đến ngày thành chánh đẳng chánh giác.
Thầy có đến cứu giúp gia đình nghèo vì bị vu oan dá họa để cướp đất họ, khi thầy đến giúp cũng bị nhiều cách trở, phiền não thị phi đến với Thầy, nhưng Thầy không ngại xã hội thị phi mà Thầy chỉ chú tâm vô việc hóa giải oan gia ách nạn thôi, còn chuyện thị phi thì xã hội nầy đầy như đống rác rồi.
Thầy mới kêu chủ gia đình thành tâm bóc gạo niệm Thất Bảo Như Lai, thì dân làng và chính quyền có đến xem sự việc Thầy giúp đở gia đình, Thầy không cho tiền của, mà Thầy viết Sắc lệnh cải số mệnh cho gia chủ quy y theo Phật, bỏ xác thân nầy tìm cái tốt hơn, Thầy ở đó 3 ngày cùng Tu Hành, cùng làm việc để sinh sống, cứ ai ghé qua nhà đó thăm người nầy đều xin Thầy cái Phép khai thị để làm ăn sinh sống, có người Thầy cho một chử, có người Thầy cho một bài thơ, và cứ liên tục như vậy một ngày gần cả trăm người tới, công an xã, mặt trận cũng tới xem như thế nào, nói Thầy không được phép truyền Đạo, cấm dân quan hệ giao du với Thầy, vì cho Thầy là Tà Đạo, đến ngày thứ ba, thì có một người ăn mặt sang trọng đến tìm Thầy hỏi, A Di Đà Phật Thầy biết Tôi là ai không? Thầy trã lời Ngài là A Di Đà Phật. người nầy mĩm cười không nói lời nào nữa bỏ ra về, Thầy tưởng vậy là xong việc, Thầy chuẩn bị thu xếp đồ về, thì vị thí chủ nầy quay lại, đưa cho một tờ giấy, trong tờ giấy có ghi sẽ cho vị chủ nhà nầy đất và xây cho căn nhà, tạo công ăn việc làm cho vị chủ nhà nầy, còn riêng Thầy vị thí chủ đưa một danh thiếp và bao thơ cúng dường Tam Bảo, sẽ liên lạc với Thầy sao.
Thời gian thấm thoát trôi qua, sự việc xãy ra như lời vị Thí Chủ nói, và đã thực hành đúng như lời. chủ nhà mới gọi điện cho Thầy, thỉnh Thầy lên ăn tân gia nhà mới, trong sự vui mừng không thể tả của chủ nhà và vị thí chủ nầy, Thầy mới hỏi lý do vì sao vị thí chủ nầy tốt quá vậy, vị nầy nói, con là chủ Công ty chế xuất ở Đồng Nai, vô tình nghe chuyện Thầy làm phước như vậy, con đến vấn Pháp Thầy, xem Phước Điền Đạo hạnh của Thầy thế nào? Thì không ngờ Thầy đã đạt được cảnh giới xem sinh linh là thân mạng của mình, Niệm A Di Đà Phật mà thấy mổi sinh linh đều có tánh A Di Đà Phật thì khó lắm, con đã đi khắp nơi, và đã hỏi nhiều Thầy, nhưng không Thầy nào nói như Thầy. thế là cả dòng họ người chủ nhà và vị thí chủ cũng như dân làng gần xa tới chia vui, và tụng thời kinh A Di Đà Phật thật là vui như cảnh Cực Lạc vậy.
THẤU thông Chánh Pháp tỏa Mười Phương
TỎ thông Chánh Pháp thế cúng dường
TÌNH Tiên Tánh Phật mình sung sướng
ĐỜI người đắc Quả Chúng Sanh Nương
Qua câu chuyện có thật Thầy kể trên, Thầy cầu chúc cho quý vị tin tấn tu hành đạt được phẩm vị cao nhất, để trên thành Phật Đạo dưới độ sinh linh và tử linh.
Nam Mô A Di Đà Phật giáng lâm Chứng Minh
XÃ HỘI KHOA HỌC PHẬT GIÁO DỤC
Đạo Pháp – Dân Tộc – An Lạc
Vương Quốc Vạn An
Liên Tông Cửu Long Kim Pháp
Đạo Giáo Thiên Đồng
Phật Hoàng Trần An
Gia Tộc Vua Trần
Tác giả: MẬT ẤN TỊNH THỌ
( Geshe Rinpoche: Thích Quảng An )

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013

Sự Linh Ứng Của Kinh Lương Hoàng Bảo Sám

Có một lần hóa duyên Thầy được Phật Tử cúng dường, đó là gia đình : TRẦN VĂN BÁO
ở xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam,
Nói về bản thân chú Báo là thầu xây dựng nhà, chú Báo là người thẳng trực, nói một là một, nhà chú Báo tuy đơn sơ nhưng Rất Tôn Kính Tam Bảo, nhìn bên ngoài nhà thì giống nhà củ kỷ bình thường, nhưng vào trong nhà thì thấy nơi thờ cúng thật là trang nghiêm, thật là trân trọng, quý hiếm thay, chú Báo rất tinh tấn Tu Hành, người nào có duyên có phước lắm mới được chú Báo nhận xây nhà, vì người nầy quyết chí tu hành, không có thời gian lo việc bao đồng nữa.
Chú Báo hỏi Thầy có cần kinh gì không? gia đình sẽ cúng dường
Thầy trã lời: Thầy cần kinh Lương Hoàng Bảo Sám ( Lương Hoàng Sám )
Chú Báo hỏi thầy cần mấy trăm cuốn.
Thầy chỉ cần 10 cuốn, nhưng cuốn nào thầy cũng cần Chú Báo hay gia đình đọc qua rồi.
Chú Ý: Trước khi cúng phải để những cuốn kinh nầy lên Bàn Thờ Phật lạy Vạn Phật xong rồi tụng.
Thế là chú Báo cho thông báo cho cả dòng Tộc tụng kinh nầy, đều chú tâm vô tụng kinh nầy.
Thầy mới có bài thơ gởi tặng gia đình chú Báo là:

LƯƠNG nhân có phước muốn viên thành
HOÀNG Thiên Hậu Thổ chiếu chiếu manh
BẢO vật linh xưa ai dám sánh
SÁM rồi mới thấy đặng Phật Thanh.

Sau đó Thầy và chú Báo đến Chùa Phước Hưng để ăn cơm. ở Chùa nầy có Quán Cơm Chay.
Trụ Trì Chùa Phước Hưng nầy là Ni Trưởng Thích Nữ Thắm Liên ( An Thắm ) vị trụ trì nầy là một vị Bồ Tát hóa thân, Phước Huệ song toàn.
Phật sự viên thành. Không chê vào đâu được.
Quý hóa thay, Quý hóa thay.
Thầy cùng chú Báo đang ăn cơm nói chuyện về Bài Thơ Thầy tặng gia đình, thì Thầy giựt mình có một người đứng bên cạnh sau lưng để xin Tiền nhưng không nói, đang đứng chờ, thì nghe Thầy đọc bài thơ thì vị nầy nghe được, vị nầy đập lên vai Thầy một cái nói: Từ sáng đến giờ con xin được có 10 ngàn xin cúng dường cho Thầy nè. Xin Thầy cho con lời khuyên để tiếp tục sinh sống và nuôi mấy đứa em còn nhỏ, thì Thầy nhìn phía sau là mấy đứa chút chút ăn mặc lem luốt.
Ni Trưởng Trụ Trì và mọi người thấy vậy, đem Gạo, Tiền  và quần áo trong Chùa Phước Hưng cho vị nầy và mấy đứa nhỏ.
Thầy mới đọc bài kệ rằng:

LƯƠNG thực nhỏ xuống ở khắp nơi
HOÀNG Kim nhỏ Phước xuống quá Trời
BẢO Điện Kim Ngoa mình luôn tới
SÁM rồi Di Lạc cùng dạo chơi.

Thầy mới hỏi vị ăn xin và mấy đứa nhỏ có hiểu bài thơ Thầy nói không?
Quý vị nầy gật đầu, Dạ hiểu và xin Thầy số điện thoại rồi cảm tạ mọi người ra đi về.
Tưởng chuyện như vậy là xong, ai ngờ 6 tháng sau Thầy nhận một tin nhắn, Thầy ơi con là Lương Hoàng Bảo Sám đây, Thầy đi ra trung Tâm Bến Tre đi, con và mấy đứa em chở Thầy đi ăn Cơm. Sau tin nhắn là Hi Hi Hi nữa.
Thầy nghĩ rằng ai phá Thầy kỳ quá. Nhưng Thầy cũng Mô Phật chờ Thầy 30 Phút. Khi Thầy ra Trung Tâm Bến Tre thì không thể ngờ được. Quý vị ăn mặc rất tươm tất ra dáng một đại gia chứ không phải là thường, đi xe thì BMW của Đức hẳng hoi. Thầy thấy ngại không lên xe, nhưng quý vị nầy nói Thầy yên tâm, tụi con có ngày hôm nay là nhờ câu nói của Thầy đó, quý vị kể tiếp, từ khi tụi con nhận Gạo Tiền Quần Áo của Chùa Phước Hưng, tụi con không biết gì đền đáp, nên ngày nào tụi con cũng thay phiên nhau vào lạy Ngài Quan Thế Âm Bồ Tát ở phía trước Chùa để đền công ơn của Ni Trưởng Thắm Liên, khi con ra khỏi Chùa, con lượm được tờ báo Hoa tím học trò đã củ kỷ rồi, dính bùn lem luốt, phủi sạch đọc kỷ thì trong đó có ghi, giải mật mã bằng chử, con mới đem chử Gạo, Tiền, Quần, Áo xem là số mấy, thế là con quyết chí mua số, không ngờ vận may nầy cứ làm lay ra hoài, khi có tiền rồi tụi con mua xe kinh doanh gạo và các mặt hàng khác, nay hết vận may trúng vì tụi con đã có tài sản, và làm nên sự nghiệp nầy.
Quý vị chở Thầy về Bạc Liêu chơi giới thiệu về mồ mã Tổ Tiên của Ông Bà, Thầy cười đúng là có duyên quá, Thầy vỗ vai và nói lớn, Phan Tấn Đệ, Trần Trinh Trạch, Trần Trinh Huy và cô Đen đây sao? Chỉ còn nghe tiếng cười mà nước mắt cứ chảy.Quý vị nầy nói: mong Thầy khai mở Trí Huệ để tụi con hồi nhớ lại kiếp sống trước, Thầy Chỉ cười và nói: đúng là con Phật Phật rước, con Thánh Thánh rước, con Hiền Hiền rước, con nhà ai nấy rước, vậy gia Tộc Trần của ta bắt đầu đoàn tụ dần dần.
Qua câu chuyện có thật, linh ứng của việc thành tâm sám hối. Chúc quý vị Tin Tấn Tu Hành và An Lạc
Nam Mô A Di Đà Phật giáng lâm Chứng Minh
XÃ HỘI KHOA HỌC PHẬT GIÁO DỤC
Đạo Pháp – Dân Tộc – An Lạc
Vương Quốc Vạn An
Liên Tông Cửu Long Kim Pháp
Đạo Giáo Thiên Đồng
Phật Hoàng Trần An
Gia Tộc Vua Trần
Tác giả: MẬT ẤN TỊNH THỌ
( Geshe Rinpoche: Thích Quảng An )





Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2013

Phật Pháp nhiệm mầu lần thứ 18 Hành trình vào hang Bác Vật Lang

Khi chúng ta quay trở lại cúng ở trụ điểm, trung tâm điểm chúng ta đi xuống chính giữa trung tâm trong hang khoảng 10 mét, thì tới một hang rất rộng gọi là tầng thứ 3, ở đây thật là mầu nhiệm, sự mầu nhiệm ở đây không thể nói lên giấy bút được, ở đây chúng ta thấy tất cả các tầng của    Trụ, các thứ châu báu trong kinh A Di Đà đều chiếu diệu sáng choang, tất cả Như Lai đang Thuyết Pháp, đẹp như trong tranh Cực Lạc vậy, cai quản ở đây cũng có vị 84.000 tuổi thọ, và 18 vị Cao Tăng, đang làm việc như những hang mà chúng ta vừa đi qua, ở đây thờ NGÀI LY BỐ ÚY NHƯ LAI, ở đây chúng ta có thể quan sát thấy được bảy tầng Như Lai thuyết Pháp để cho chúng ta lìa các sự sợ hãi các cõi. Đạt được Bi Trí Dũng có sức lực đại hùng, đại lực, đại bi của nhà Phật vượt qua các chướng ngại vật mà tiến tu trên con đường giải thoát mà thấy Đạo.
Giải nghĩa Tên NGÀI LY BỐ ÚY NHƯ LAI để cho quý vị hiểu rỏ:
NGÀI LY => Nghì Lai =>
Nghì là bất tư nghì, không thể nghĩ bàn,
Lai là lai đáo hay đáo lai, lai lâm hay giáng lâm trở lại cho chúng ta.
LY BỐ => Lô Bí =>
Lô là nguyên một dãy, một hội, một tập đoàn, một xâu chuỗi dài vô tận
Bí là Bí mật, bí pháp, bí truyền, chỉ truyền tâm với những người đạt tới cảnh giới tối cao của nhà thiền của Phật
BỐ ÚY => Bí Ố =>
Bí là khóa lại, đóng kín, ngăn chặn không cho lọt qua, không cho vào
Ố là hoen ố, ố uế, dơ bẩn, tạp niệm, làm cho chúng ta sợ hải.
ÚY NHƯ => Ư Nhúy =>
Ư là sức mạnh vộ tận trong người chúng ta được khai mở, theo tiếng tàu gọi là Chi là khí, Tiếng Nhật là Ki ai, là tiếng hội hiệp khí lực để tung ra, tiếng Hàn Quốc thì Ki hap
Nhúy – y = Nhú là khí lực vừa khởi lên chuẩn bị sẳn sàng
Nhúy – N = Húy là hội hiệp tất cả sức mạnh toàn năng của con người nói riêng, cũng như Vũ trụ nói chung, chuẩn bị tung ra. Người nào đạt được sức mạnh nầy thì không còn sợ hãi khi đi qua các cõi vô hình nữa.
NHƯ LAI => Nhai Lư => là thông tất cả vạn vật trong Vũ Trụ, tất cả phép tắc huyền môn thờ cúng, hay bất cứ chuyện gì trong Vũ Trụ đều thông suốt. nếu ai đạt được tới cảnh giới nầy thì mọi chướng ngại coi như rơm như rác, như muối bỏ vào biển vậy. Khi gặp chướng nạn hãy thành tâm nói NGÀI LY BỐ ÚY NHƯ LAI giáng lâm hộ độ cho con vượt qua nghiệp chướng. đọc lên 3 lần thì sẽ thấy ứng chứng lòng ngực chúng ta nặng lên vì một sức mạnh vô hình, có thể tung chưởng lúc nào không hay không biết, khi xong việc, chúng ta chỉ cần bắt ấn kiếm quyết tay phải để vào huyệt ấn đường nói : Cung Thỉnh NGÀI LY BỐ ÚY NHƯ LAI hồi cung. Xuất ( 3 lần ) nếu không thỉnh Ngài xuất ra thì con người chúng ta sẽ nóng lên đầy giận dữ như ngài hộ pháp vậy, nếu để lâu có thể cháy nội tạng nguy đến tính mạng. Tất cả các vị Phật đều ứng chứng như vậy chứ không riêng vì Ngài Ly Bố Úy Như Lai. Liệu chúng ta có thành tâm hay không? hay nghe rồi chê bay như trò đùa thì không bao giờ thấy Đạo.
Ở đây Ngài chỉ rỏ Kinh Pháp Hoa đặc biệt là quyển bảy, Lục tự thần chú vương kinh, Bát không quyến tác thần chú. Để hộ pháp cho những người có duyên tu tập đạt được tới cảnh giới tối cao mà không bị phá, cũng như bị tẩu hỏa nhập ma vậy. những kinh nầy chúng ta có thể tìm trên Google trong các đại tạng kinh của nhà Phật. nói chung kinh nhiều quá nên người tu không quan tâm nhiều những kinh điển quý báu mà thực hành tu luyện cho hết. Tập trung cho đông đọc vài bộ kinh ăn vài tô tương là đi chê hết người nầy tới người kia, Thí dụ có một đám chết hay một đám gì đó, mà chủ nhà mời khách mà chạm trán, một đoàn chuyên niệm Phật, một đoàn chuyên tụng và lại sám hối, thì ôi thôi sẽ có xung đột sau đám đó, nhưng nói về sự hấp thụ và hiểu biết thì ở ngoài bìa kinh thôi. Nếu muốn đạt được tới cảnh giới tối cao của nhà Phật thì phải biết kỉnh vạn vật. chúng ta đang đứng nơi đây nhìn thấy vạn vật như từ Vũ trụ xuống vậy, chúng ta có thể thu gần dần lại và nhìn thấy rỏ, và hiểu thấu người đó đang làm gì? Nhưng sự chuyển hướng cuộc gọi hay chuyển hướng tin nhắn thì người cài mạng lưới bản đồ chỉ biết địa chỉ đang phát sóng chứ không biết người đang chuyển hướng, chỉ có những người thiền định cao thâm mở Thiên nhãn thông mới nhìn thấy rỏ được.
ở đây có 8 hang cũng như 8 cung bát quái, cũng như bánh xe luân hồi, mổi cung đều có một bộ kinh và thờ một Ấn Sắc lệnh. Và cách sử dụng 10 con số từ 0 đến 9, mổi con số đều có câu thần chú riêng, để cầu tài, để ôn hòa âm dương, hay diệt bỏ đều nằm trong 10 con số nầy.
Giải thích đơn giản của sự giải mã trong hang của bộ giải mật mã như sau:
0 là  Vũ Trụ bao la, vạn sự như ý.
1 là chắc chắn mọi công việc được thành công
2 là âm dương đều hòa được mãi mãi
3 là tam tài được trường tồn mãi mãi
4 là tứ quý khai hoa tử
5 là ngũ trung đều hành ngũ hành trong Vũ Trụ
6 là lộc đến khắp nơi trong Vũ Trụ
7 là nổi thông suốt Vũ Trụ cùng đồng
8 là phát đạt thịnh vượng khai hoa lộc
9 là thừa phúc lộc thọ trường tồn mãi mãi.
10 con số nầy đều có một chữ cái, và một câu thơ ( thần chú khi đọc sắc lệnh ) viết trên giấy vàng chử đỏ, nếu ai uống được 10 con số nầy thì đi dưới nước như đi trên đất, đi trên đất như đi dưới nước, biến hiện khắp nơi, nhìn thấy mọi nơi chỉ cần biết địa chỉ, và biết nơi đó có những gì? Âm binh hay dương binh đều biết. cũng như chúng ta mở máy tính, hay điện thoại có mạng internet vậy, mổi con số đều có sắc lệnh của 7 vị Phật và ấn lệnh, trên sắc lệnh nầy đều có dấu ấn Phật Hoàng. Nhiệm màu thay như trong kinh Phật đã nói. Chẳng thể nghĩ bàn.
Nếu ai có cơ duyên thì Thầy chỉ nói ra bấy nhiêu đây thì quý vị đã chứng quả Phật rồi, nếu ai giỏi hơn nữa thì làm thơ cho mình để làm bảo bối từ những con số nầy.
Thí dụ số 0:
Không tên không tuổi không tháng ngày
Biết đến làm chi khổ lắm ai
Loanh quanh dưới thế nhìn khang thái
Chỉ thấy mình ta đặng Phật Ngài
Đó là một thí dụ đơn giản, người ta nghe mình nói một câu thơ trong lúc giao duyên thì người ta biết mình chứng đặng hay không rồi. người ta sẽ vui và hạnh phúc được trao đổi những cái hay với chúng ta, chú ý: nhiều duyên phải biết giữ mình, chứ nhiều duyên là khổ lắm, nếu mình không có Bi Trí Dũng giải quyết sẽ tan nát vậy. chứ ăn học cho lắm mà khi đụng chuyện trái ngịch lòng mình thì ăn nói vô duyên lệch sóng thì cái miệng đấp muối không kịp thì nguy lắm. người mà bị lệch sóng một lần rồi chắc khó lắm mới bắt được sóng của mọi người trở lại. có khi vĩnh viễn không bao giờ tiếp được sóng lại. chỉ trừ sám hối. nếu sám hối mà không ai chứng thì ôm hận suốt đời đến chết, kiếp sau hay nhiều kiếp sau nữa tái sanh vào người thân mà trã nợ duyên đời cho nhau.
Vậy qua những bài Phật Pháp nhiệm mầu, quý vị rút ra được kinh nghiệm, xếp lịch thời gian cho mình tu tập, ở đâu tu cũng được, không nhất thiết là người tu có chùa mới Tu được, chúng ta đọc kinh, thần chú, hay bài kệ mà thâm nhập vào Tâm thì gió reo cũng nghe được, xe chạy cũng nghe được, vạn vật phát ra âm thanh đều nghe được. có câu thơ cũng như thần chú của đạo thì chúng ta nên đọc thuộc lòng sẽ có năng lực vô lượng vô biên như câu thơ nói :
ĐẠO GIÁO THIÊN ĐỒNG
ĐẠO Giáo thông Thiên Vũ Trụ đồng
GIÁO duyên Phàm Thánh sánh Hư Không
THIÊN ban Sắc Lệnh Vũ Trụ thống
ĐỒNG Danh Đồng Hiệu với Hư Không
Câu chú nầy có thề giải phá tất cả chướng nghiệp, nếu quý vị nắm hai tay thật chặt, co lưởi lên , cắn răng thật chắc, đọc câu chú nầy trong tâm 7 phút khi thả ra, quý vị sẽ thấy trong người tăng sức mạnh không thể nghĩ bàn được, kinh mạch đã khai thông. Những câu chú khác cũng làm y như vậy, không riêng gì câu nầy.
Kính mong hồng ân Tam Bảo Mười Phương Chư Phật gia hộ cho quý vị Thân Tâm An Lạc, Kiết Tường Như Ý. Đạt được Phẩm vị cao nhất, để trên thành Phật Đạo dưới độ chúng sanh.
Nam Mô A Di Đà Phật giáng lâm Chứng Minh
XÃ HỘI KHOA HỌC PHẬT GIÁO DỤC
Đạo Pháp – Dân Tộc – An Lạc
Vương Quốc Vạn An
Liên Tông Cửu Long Kim Pháp
Đạo Giáo Thiên Đồng
Phật Hoàng Trần An
Gia Tộc Vua Trần
Tác giả: MẬT ẤN TỊNH THỌ
( Geshe Rinpoche: Thích Quảng An )


Thứ Năm, 8 tháng 8, 2013

ĐẠO GIÁO THIÊN ĐỒNG



Đạo Giáo là Đạo Tổ cùa Nho Giáo, Phật Giáo, Lão Giáo, Tam Thánh. Đạo giáo có từ vô thủy vô chung không có hạn định thời gian không gian được.
Tên Đạo giáo xuất phát từ chữ Đạo,
道沖,而用之或不盈 。淵兮,似萬物之宗
Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất doanh. Uyên hề, tự vạn vật chi tông.
Đạo trống không, nhưng đổ vào mãi mà không đầy. Đạo sâu thẳm, dường như là tổ tông của vạn vật.
Đạo là đơn vị tối sơ, nguyên lí của vũ trụ và là cái tuyệt đối. Vạn vật xuất phát từ Đạo, nghĩa là cả vũ trụ và như vậy, trật tự vũ trụ cũng từ Đạo mà ra, tương tự như nguyên tắc tự nhiên, nhưng Đạo lại chẳng phải là một nhân vật toàn năng, mà là nguồn gốc và sự dung hòa, không thể định nghĩa được. Đạo là Vô danh ,
道可道,非常道 。名可名,非常名
無名天地之始,有名萬物之母
Đạo khả đạo, phi thường Đạo. Danh khả danh, phi thường Danh.
Vô danh thiên địa chi thủy, hữu danh vạn vật chi mẫu.
Đạo mà ta có thể nói đến được, không phải là Đạo thường còn. Danh mà ta có thể gọi được, không phải là Danh thật sự.
Vô danh là gốc của thiên địa, hữu danh là mẹ của vạn vật.
Cái Dụng () của Đạo tạo ra âm dương, nhị nguyên, những cặp đối đãi và từ sự biến hóa, chuyển động của âm dương mà phát sinh thế giới thiên hình vạn trạng.
Thiên Thai tông chủ trương "một niệm phát sinh tam thiên đại thiên thế giới xuất hiện" (一念三千) và Hoa Nghiêm tông nhấn mạnh đến khía cạnh "Lí sự vô ngại" và "Sự sự vô ngại". Sự tương tác, xuyên suốt của vạn vật chính là sự thể hiện của Phật tính. Hai tông nầy hợp lại gọi là Thiên Đồng
ĐẠO GIÁO THIÊN ĐỒNG
ĐẠO Giáo thông Thiên Vũ Trụ đồng
GIÁO duyên Phàm Thánh sánh Hư Không
THIÊN ban Sắc Lệnh Vũ Trụ thống
ĐỒNG Danh Đồng Hiệu với Hư Không
chủ trương kế thừa sự sùng bái thiên nhiên và sùng bái tổ tiên ( Đạo làm người hành đạo để giải thoát) Từ khi Thầy khai mở và phát triển Đạo Giáo Thiên Đồng đến nay đã có 900.000.000 ( chín trăm triệu tín đồ ) đăng ký theo thống kê của 1500 ngôi đạo quán của China ( Trung Quốc ) Tibet ( Tây Tạng ) và các nước gần 2700 ngôi đạo quán đã có thư thỉnh Thầy truyền Pháp. Đạo Giáo Không chỉ là một tôn giáo, dạy con người trở về với gốc Đạo, huyền đồng cùng vũ trụ, Đạo giáo còn đóng góp rất nhiều cho nền văn minh của Nhơn loại. Rất nhiều sinh hoạt độc đáo của người Nhơn loại đã lan truyền khắp thế giới có nguồn gốc xuất phát từ Đạo giáo. Đạo là Đạo chứ không phải cuồng Đạo, Đạo giáo trung nhận Thuấn là Địa Quan Đại Đế, NghiêuThiên Quan Đại Đế, Hạ VõThủy Quan Đại Đế.
Trong văn học Việt Nam, thời Nghiêu, Thuấn được dùng làm điển cố miêu tả thời thái bình, (ngoài) đường không lượm của rơi, (trong) nhà khỏi lo đóng cửa.
Điển cố này ảnh hưởng trong văn học cũng như các khía cạnh khác của đời sống người Việt Nam, kể cả tôn giáo. Bài “Cư Trần Lạc Đạo Phú” của vua Trần Nhân Tông (sư tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử của Phật giáo) có câu:
Đức Bụt từ bi, mong nhiều kiếp nguyền cho thân cận;
Ơn Nghiêu khoáng cả, lọt toàn thân phô việc đã tha.
Các vua Việt Nam cũng dùng Nghiêu Thuấn là mẫu mực cho việc cai trị. Bên trong điện Thái Hòa (thành nội Huế), ngay trên ngai vua có bài thơ:
Văn hiến ngàn năm dựng
Núi sông vạn dặm xa
Hồng Bàng thuở lập quốc
Nghiêu Thuấn vững sơn hà.
Thời Trần, các vua nhường ngôi cho con về làm Thái Thượng Hoàng, thường được đặt tôn hiệu có tên của vua Nghiêu, với ngụ ý truyền thuyết vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn là người tài. Cách đặt này ngoài ngụ ý so sánh Thái Thượng hoàng như vua Nghiêu, còn so sánh vua kế vị như vua Thuấn.
Trần Thái Tông, khi làm Thái thượng hoàng có tôn hiệu Hiển Nghiêu.
Trần Thánh Tông, khi làm Thái thượng hoàng có tôn hiệu Quang Nghiêu.
Trần Nhân Tông, khi làm Thái thượng hoàng có tôn hiệu Hiến Nghiêu.
Trần Anh Tông, khi làm Thái thượng hoàng có tôn hiệu Quảng Nghiêu.
Trần Minh Tông, khi làm Thái thượng hoàng có tôn hiệu Chương Nghiêu.
Nghiêu (2337 - 2258 TCN) là một vị vua huyền thoại ở Trung Quốc, một trong Tam Hoàng Ngũ Đế. cũng được gọi là Giao Đường Thị, ông sinh tại Nhân Phóng Huân hay Nhân Kỳ là con trai thứ hai của Đế Khốc và Khánh Đô. Ông cũng được gọi là Đường Nghiêu.
Thường được ca tụng là một vị vua tài giỏi và đạo đức, lòng nhân từ và sự cần cù của vua Nghiêu được coi là kiểu mẫu cho mọi vị vua và hoàng đế Trung Hoa khác. Buổi ban đầu lịch sử Trung Hoa, ba gương mặt, Nghiêu, Thuấn và Vũ rất thường được đề cập tới, và những nhà sử học thời sau tin rằng có thể họ đại diện cho những lãnh tụ của các bộ tộc liên minh đã thành lập nên một hệ thống trật tự chính phủ thống nhất trong một giai đoạn chuyển tiếp sang một xã hội phong kiến gia trưởng.
Theo truyền thuyết, Nghiêu lên ngôi vua khi mới 20 tuổi, chết khi 119 tuổi và ông truyền ngôi cho vua Thuấn, người được ông gả cho hai cô con gái từ trước. Trong nhiều cống hiến của mình, vua Nghiêu được cho là đã phát minh ra cờ vây.
Truyền thuyết "Sào Phủ Hứa Do" là một chuyện đời vua Nghiêu. Nhân vật Bành Tổ cũng được cho là một nhân vật của thời vua Nghiêu.
Thuấn là một vị vua huyền thoại thời Trung Quốc cổ đại, nằm trong Tam Hoàng Ngũ Đế. Tên khi sinh Diêu Trọng Hoá. Ông cũng được gọi là Hữu Ngu Thị Thuấn nổi tiếng là người hiền đức trong thiên hạ. Theo truyền thuyết, mẹ ông mất sớm, cha lấy vợ khác và sinh ra Tượng. Dù bị mẹ con Tượng và cả người cha đối xử không tốt, Thuấn vẫn một mực hiếu thuận, giữ đúng đạo làm con.
Danh tiếng của Thuấn đồn xa. Ông được vua Nghiêu mời giúp cai quản việc nước và gả cho hai người con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh. Sau một thời gian, Nghiêu già yếu, Thuấn được Nghiêu nhường ngôi khi 53 tuổi và chết khi 100 tuổi. Ông đặt thủ đô vương quốc tại Bồ Phản , Sơn Tây hiện nay. Ông cũng được gọi là Đại Thuấn hay Ngu Thuấn
Việc Nghiêu chọn Thuấn nhường ngôi chứ không nhường ngôi cho con mình là Đan Chu thường được sử sách đời sau coi là tấm gương mẫu mực của việc chọn người tài đức chứ không vì lợi ích riêng tư của dòng họ. Thời cổ đại, trị thủy để ổn định cuộc sống, phát triển việc cày cấy là việc cấp bách hàng đầu. Theo sử sách, Thuấn sai Cổn làm việc trị thủy. Cổn trị thủy không thành công nên bị Thuấn xử tội chết.
Thuấn lại dùng con Cổn là Hạ Vũ trị thủy. Sau nhiều năm, Hạ Vũ trị thủy thành công, vì thế được Thuấn chọn làm người kế vị. Thuấn không truyền ngôi cho con mình là Thương Quân mà trao ngôi báu cho Hạ Vũ.
Vua Vũ nhà Hạ , (2205 TCN-2198 TCN) là vua đầu tiên nhà Hạ trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người đầu tiên xác lập chế độ cha truyền con nối. Tên khi sinh là Tỉ Văn Mệnh thường được gọi là Đại Vũ Theo truyền thuyết, vua Vũ là vị vua đầu tiên của nhà Hạ trong lịch sử Trung Quốc, được coi là người sáng lập ra triều đại này. Ông được nhớ tới nhiều nhất với tư cách là người đã có công phát triển kỹ thuật, Pháp thuật, chiến thuật trị thuỷ chinh phục các sông ngòi Trung Quốc. Vũ đã đào chín sông mới, khai thông 9 tuyến đường núi lớn, bỏ ra mười ba năm và khoảng 20.000 nhân công để hoàn thành nhiệm vụ.
Vũ cũng là người nổi tiếng về tính kiên trì và kiên quyết. Ông được kính trọng như một vị vua hoàn hảo. Các câu chuyện về công việc trị thủy của ông cho rằng trong thời gian làm việc, ông đã ba lần qua nhà mà không vào; có nghĩa là ông coi vấn đề trị thủy quan trọng hơn việc gia đình rất nhiều.
Theo Sử ký, từ thời Thuấn và Hạ Vũ, chế độ cống thuế đã hoàn bị. Cuối đời, vua Vũ đi săn bắn và hội họp chư hầu ở Giang Nam và mất tại đó. Ông được chôn cất ở nơi này. Theo giải thích của Sử ký, Cối (hay Hội) và Kê là việc hội họp chư hầu và khảo sát thành tích, vì vậy nơi ông mất và xây mộ được gọi là Cối Kê (hay Hội Kê)
Lăng mộ được xây dựng ở Cối Kê để tưởng nhớ ông. Một số hoàng đế sau này đã đi tới đó thực hiện các nghi lễ tưởng niệm ông, đặc biệt có cả Tần Thủy Hoàng. Lăng Đại Vũ , cũng đã được xây dựng trên di tích nơi các buổi lễ đó được thực hiện.
Trước thời vua Vũ, ngôi vua được kế tiếp cho người nào được cộng đồng coi là có đạo đức cao nhất, chứ không phải là truyền cho con. Ban đầu, Hạ Vũ đã chọn người hiền tài là Cao Dao thay mình, nhưng Cao Dao mất sớm nên ông chọn con Cao Dao là Ích.
Theo chính sử, con trai vua Vũ, Khải, đã chứng minh được khả năng của mình, được nhiều người ủng hộ hơn Ích và trở thành người thừa kế ngôi báu của cha, đánh dấu sự khởi đầu của một triều đại mới là nhà Hạ , triều đại đầu tiên của phong kiến Trung Quốc. Nó đã trở thành một hình mẫu cai trị dựa trên thừa kế ở Trung Quốc
Mọi người tin rằng, trong thời đại vua Nghiêu, vua Thuấn, vua Vũ, thiên hạ không có tranh giành lợi ích, quyền lực, vua và người bình thường đều sống cuộc sống tốt đẹp và giản dị.
Ba vị Vua nầy cũng có Binh Thư Thánh Ký của Đạo Giáo Thiên Đồng để lại. Nên mới bình Thiên Hạ được dể dàng, Vậy chúng ta là hậu lai đã tái sanh từ ông bà cha mẹ, hay chính bản thân chúng ta,  lại không dùng binh thư thánh ký nhơn đức con người mà bình thiên hạ, mà lại xâu xé phân biệt nhau làm gì? Thầy đã nói ra huyết thống từ ngàn xưa cho tới nay, chúng ta phải bình tâm mà dừng lại mọi hoạt động dục vọng ham muốn, để xây dựng thế giới đại đồng, bình đẳng toàn cầu hóa. ở đây Thầy chỉ nói giới thiệu sơ qua ĐẠO GIÁO THIÊN ĐỒNG, còn Binh Thư Thánh Ký Thầy không Tiết lộ, Quý Cao Nhơn Hoan Hỷ.
Nam Mô A Di Đà Phật giáng lâm Chứng Minh
XÃ HỘI KHOA HỌC PHẬT GIÁO DỤC
Đạo Pháp – Dân Tộc – An Lạc
Vương Quốc Vạn An
Liên Tông Cửu Long Kim Pháp
Đạo Giáo Thiên Đồng
Phật Hoàng Trần An
Gia Tộc Vua Trần
Tác giả: MẬT ẤN TỊNH THỌ
( Geshe Rinpoche: Thích Quảng An )

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

Phật Pháp nhiệm mầu lần thứ 17 Hành trình vào hang Bác Vật Lang



Chúng ta đang ở tầng thứ 2 của Ngài Cam Lồ Vương Như Lai, ở đây thật là mầu nhiệm, sự mầu nhiệm ở đây không thể nói lên giấy bút được, ở đây chúng ta thấy tất cả các tầng của    Trụ, các thứ châu báu trong kinh A Di Đà đều chiếu diệu sáng choang, tất cả Như Lai đang Thuyết Pháp, đẹp như trong tranh Cực Lạc vậy, cai quản ở đây cũng có vị 84.000 tuổi thọ, và 18 vị Cao Tăng, đang làm việc như những hang mà chúng ta vừa đi qua, ở đây thờ Ngài Cam Lồ Vương Như Lai, ở đây chúng ta có thể quan sát thấy được bảy tầng như lai thuyết Pháp để diệt tội chướng của các cõi. Từ các cung Càn Khảm Cấn Chấn Tốn Ly Khôn Đoài đều làm việc xem xét thế nhơn chết sống các cõi, từ dưới nước hay trên bờ đều có sinh linh vong hồn sống sinh hoạt như chúng ta vậy, muốn giải được các oan thiêng trái chủ trong nhà, trong đất, trong ao, hồ, sông, mồ mã, hay những nơi ô uế phức tạp nhiều vong thì chúng ta làm như sau: ( có Sắc lệnh )
Nếu muốn giải vong oan thiêng trên bờ thì chúng ta lấy cát ở 3 dòng sông, rửa sạch phơi khô, trì chú Tỳ Lô Quán Đảnh, rãi nơi có vong thì tức khắc các vong được vãng sanh. Còn như vong ở dưới nước thì chúng ta lấy cát nhuộm thành 5 màu, kim mộc thủy hỏa thổ, trộn đều lại, trì chú Tỳ Lô Quán Đảnh, rãi nơi dưới nước có vong, hay những nơi có chết đuối, thì tức khắc các vong được vãng sanh. Nếu kết hợp hai loại cát trên và trộn thêm 5 loại đậu, 5 loại ngãi, đốt sắc lệnh hòa trộn đều, luyện đúng 108 ngày, đem rãi nơi ranh giới vườn nhà, hoặc biên giới đất nước thì khi ai bước trúng thì tự nhiên tai biến chết tức khắc. vì hồn không chịu nổi, người luyện nầy phải uống thuốc trừ và uống sắc lệnh trước khi hạ thủ công phu. Nếu muốn phá thành giặc thì phải kết hợp với lục đinh lục giáp và hút tam đại pháp. Những tay cao thủ thường dùng loại nầy để đột nhập ngân hàng, hay các cơ quan hành chính để phá. ở đây thầy chỉ ghi cách giải chứ không ghi cách biến vong thành quỷ để phá người,
Ai luyện được tới mức sai quỷ đi phá được thì phải có đức độ và sắc lệnh tuổi thọ cao. Không thôi nó quay lại hại bản thân và những sinh linh khác. Quý vị thường thấy, những công ty, nhà hàng, cơ sở doanh nghiệp, quán nước, quán ăn, nhà ở, tự nhiên đang làm ăn xung túc thì tự nhiên vắng khách, làm ăn xuống dốc rồi đến tự tử, lý do dính chưởng của những thầy pháp học lóm lưa mưa, biết phá mà không biết cách giải, loại nầy lan vô những nơi linh thiêng nhiều, trúng những loại nầy thì chỉ có Cao Tăng hay những vị nghiên cứu huyền môn có thể giải được. trong 10 năm nay Thầy đã nghiên cứu và hành pháp, Thầy đã chạm trán với các cao thủ trong nước, ngoài nước, nhưng Thầy không đánh trã, Thầy chỉ dùng Hút Tam Đại pháp thu phục họ để Thầy nghiên Cứu, sau đây Thầy truyền lại cho quý vị những phương pháp đơn giản để thực hành, còn cách cúng đám cho được vãng sanh thì phải có sắc lệnh và truyền thụ trực tiếp
Cách Thức Cầu An Giải Bịnh:
Khi một người bị bịnh, lâm vào tình trạng nguy kịch, nếu điều trị ở bệnh viện, bác sĩ sẽ cho gia đình biết không thể cứu chữa bằng thuốc được nữa, thì thân nhân người bịnh nên rước bịnh nhân về nhà, mời Thầy Chay Lạc thanh tịnh ( Cao Tay Ấn ) đến thiết lễ cúng Sám Hối để cầu giải bịnh. Bởi vì người xưa từng nói:
“Diệu dược nan y oan trái bịnh
nghĩa là thuốc hay không thể trị được bịnh oan trái. Bịnh oan trái còn gọi là bịnh căn quả, loại bịnh này chỉ có Hồng ân của Chư Phật mới tha thứ, giảm trừ được những oan nghiệt và Thần, Thánh, Tiên, Phật mới cứu được khổ nạn, độ được căn quả mà thôi.
Chúng ta đã biết, vào thời Mạt Pháp, Đức Phật Hoàng Trần An Di Lạc Vương Tôn Phật đương lai hạ sanh đã khai mở nền Đạo mới là:
ĐẠO GIÁO THIÊN ĐỒNG.
ĐẠO Giáo thông Thiên Vũ Trụ đồng
GIÁO duyên Phàm Thánh sánh Hư Không
THIÊN ban Sắc Lệnh Vũ Trụ thống
ĐỒNG Danh Đồng Hiệu với Hư Không
với mục đích chỉ rõ đường đi cho toàn thể sinh linh giải trừ mọi oan khiên nghiệp chướng, nhằm cho sinh linh được nhẹ nhàng, dễ bề tu hành hầu để phản bổn hườn nguyên, quy hồi cựu vị. Do vậy, người am tường lý Đạo, khi mang bịnh nặng, thuốc men không thuyên giảm được thì chúng ta phải nghĩ đến do căn nghiệp mà sinh ra đau bịnh, thì nên thiết lễ cúng Sám Hối với các đấng Vô Hình bề trên, nhờ hồng ân thiêng liêng hộ trì cho tiêu căn giảm nghiệp, vạn bịnh hồi xuân, gia tăng phước thọ. Người bị bịnh do căn nghiệp, một khi thọ mạng chưa dứt mà được các Đấng Thiêng Liêng giải trừ oan khiên nghiệt chướng thì dù không thuốc men, bịnh tình cũng sẽ tự khỏi. Những bịnh căn quả trong thời Hạ ngươn mạt pháp này rất nhiều, bởi vì con người gia tăng dân số và những tội lỗi của sinh linh đã tạo ra từ nhiều kiếp trước, gây ra vô số oan gia nghiệp báo lẫn nhau khiến hiện kiếp phải thọ lãnh hằng hà những bịnh về căn quả, bịnh về oan nghiệp.
Khi thiết lễ cầu giải bịnh oan khiên nghiệp chướng, chúng ta cần nên tụng kinh Lương Hoàng Bảo Sám mà trong kinh đó Đức Phật Hoàng Di Lạc nhiều lần hạ giáng khai thị cho sinh linh trì tụng: Nếu như có người thọ trì Phật pháp mà kinh sợ những chướng ngại của Ma vương, một lòng tưởng niệm, Phật Hoàng Trần An Di Lạc Vương Tôn Phật có thể cứu giúp giải được tam tai, giải  được tật bịnh, có thể cứu độ và dẫn dắt chúng sanh thoát hết các nghiệp chướng, để đạt được siêu thoát đến cảnh giới Cực Lạc
(Nhược hữu nhơn thọ trì khủng kinh ma chướng , nhứt tâm thiện niệm : Nam Di Lạc  Vương  Vương  , năng  cứu  khổ ách , năng cứu tam tai , năng cứu tật  bịnh , năng độ  dẫn chúng sanh thoát chư nghiệt chướng  tất  đắc  giải  thoát ).
Và Kinh Cứu Khổ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát cũng có nói: Bài kinh Cứu Khổ này là của vị Đại Thánh, có thể cứu được tù ngục, có thể cứu được bịnh nặng, có thể cứu tam tai và trăm nạn khổ (Thử kinh  Đại Thánh , năng  cứu  ngục  , năng  cứu  trọng bịnh , năng  cứu  tam  tai  nạn  khổ tất  đắc  giải  thoát )     
Chính có lời hứa của Chư Phật, nên sau khi thiết lễ cầu giải bịnh xong, vị chứng đàn trở vào quỳ cầu nguyện Chư Phật và hội 5 ly nước lại (Gọi ngũ hành ký tế) rồi cho bịnh nhân cầu nguyện uống. Đây là một ân điển thiêng liêng mà Thầy ban cho cả sinh linh trong thời hạ ngươn mạt pháp nầy, tức là nhờ sự thành tâm cầu nguyện mà Chư Phật ban cho nguồn ân điển ngũ hành hòa hiệp trong ly An Lạc thủy để người bịnh uống vào được điều hòa về vật chất và tinh thần, dứt trừ vạn bịnh, thể xác khương cường, tinh thần tráng kiện. Trên đây là trường hợp người chứng đàn cầu giải bịnh là vị Chức Việc không thọ bí pháp giải bịnh, chỉ dùng nguyện lực để cảm ứng với các Đấng Thiêng Liêng ban cho nước Ngũ Hành trở nên An Lạc thủy làm Linh dược để trị các loại bịnh về oan trái.
Nếu người chứng đàn là vị Chức Sắc được truyền Sắc Lệnh giải bịnh thì sau khi cúng Chư Phật xong vị Chức Sắc đó sẽ hành pháp dùng phương pháp Bí Truyền giải oan hay giải bịnh.
Đức Phật Hoàng Di Lạc dạy về cách truyền Sắc lệnh giải bịnh: Người hành pháp, tay bắt ấn phá địa ngục, chính giữa hai tay có 9 cây nhang vẽ lên chỗ bị bịnh chữ ( Ấn Phật Hoàng Trần An Di Lạc Vương Tôn Phật) xong để hai bàn tay lên chỗ ấy truyền điểm, nhắm mắt lại lưỡi cong đọc câu:
Thể chất hườn ngươn khí
cốt nhục dẫn châu thân
phá giải oan thiêng nghiệp
cấp cấp như luật lệnh”.
Đoạn hít hơi thật sâu, rồi thở ra từ từ. Dùng tư tưởng đưa luồng điển sang người bịnh cho chạy toàn thân, mỗi một hơi là một câu niệm chú Dược Sư: 
Nam mô bạt dà phạt đế, bệ sát xả, lủ rô thích lưu ly, bát lặt bà, hắt ra xà dã, đát tha yết đa da, a ra hắt đế, tam miệu tam bột đà da. Ðát điệt tha. Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xả, tam một yết đế tóa ha.
Chú Ý: 36 niệm là triệu tập Thần Dược
               36 niệm Thần Dược hóa khí
               36 niệm thổi Khí dược vào người bệnh
làm như vậy 108 lần, xong lấy tay ra. Dứt, đến lạy Chư Phật 3 lạy xong ra ngoài Trời hít vào tâm tỉnh lặng, giữ hơi tâm tĩnh lặng, thở ra xã hết nghiệp.
Còn hành pháp cho uống nước là luyện Ma Ha thủy, khi hành pháp xong cho người bịnh uống lần niệm Nam Mô Phật, niệm Nam Mô Pháp, niệm Nam Mô Tăng,
niệm Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Vương Phật
Nam Mô Cam Lồ Vương Như Lai Phật, rồi cho uống hết.

Chú Ý : Nếu người bịnh không hết, chắc là tới số mãn phần

Cách Thức Cầu Hồn Khi Hấp Hối.
Chúng Ta cúng Sám Hối và đã cầu giải bịnh rồi nhưng không khỏi, đang trong tình trạng nguy kịch, gia đình nên thỉnh Thầy Chay Lạc thanh tịnh ( Cao Tay Ấn )  và toàn đạo đến Cầu hồn khi hấp hối. Ta phải thực hành những nghi thức sau.
Trước nhứt là phải thiết lễ trình Các Đấng Thiêng Liêng như: Định Phúc Táo Quân, Ngũ phương ngũ thổ Long Thần, Cửu Huyền Thất Tổ, Sau đó triệu hết chư vị nầy đến Tam Bảo đảnh lễ Chư Phật và Các đấng thiêng liêng. Cầu xin cho Chơn linh người đang hấp hối được định tâm hướng về Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, để cầu cho Chơn linh được nhẹ nhàng xuất ra khỏi thể xác và Đức Phật A Di Đà thọ ký. Thần chú khai thị:
Hít vô thấy Được A Di Đà
Giữ hơi A Di Đà Thọ Ký
Thở ra vãng sanh về Cực Lạc
A Di Đà Phật Phật Phật Phật
Sám Chủ đọc lớn tiếng và gọi:
Họ tên.......pháp danh…….tuổi…….ở đâu?.......
Hãy lắng nghe và làm theo
* 1 * Chí Tâm đảnh lễ: Nam Mô thường tịch quang Cực Lạc A Di Đà Phật,
pháp thân mầu thanh tịnh khắp pháp giới ( 1 lạy )
* 2 * Chí Tâm đảnh lễ: Nam Mô thật báo trang nghiêm Cực Lạc A Di Đà Phật,
thân tướng hải vi trần khắp pháp giới Chư Phật ( 1 lạy )
* 3 * Chí Tâm đảnh lễ: Nam Mô Phương tiện thánh cư Cực Lạc A Di Đà Phật
thân trang nghiêm giải thoát khắp pháp giới Chư Phật ( 1 lạy )
* 4 * Chí Tâm đảnh lễ: Nam Mô cõi An Lạc Phương Tây A Di Đà Phật
Thân căn giới đại thừ khắp pháp giới chư Phật ( 1 lạy )
* 5 * Chí Tâm đảnh lễ: Nam Mô cõi An Lạc Phương Tây A Di Đà Phật
Thân hóa độ đến mười phương khắp pháp giới Chư Phật ( 1 lạy )
* 6 * Chí Tâm đảnh lễ: Nam Mô cõi An Lạc Phương Tây, giáo hạnh lý ba kinh
Tột nói bày ý chánh, khắp Pháp giới Tôn Pháp. ( 1 lạy )
* 7 * Chí Tâm đảnh lễ: Nam Mô cõi An Lạc Phương Tây Quán Thế Âm Bồ Tát
Thân tử kim muôn ức khắp pháp giới Bồ Tát ( 1 lạy )
* 8 * Chí Tâm đảnh lễ: Nam Mô cõi An Lạc phương tây Đại Thế Chí Bồ Tát
Thần trí sáng vô biên khắp pháp giới Bồ Tát ( 1 lạy )
* 9 * Chí Tâm đảnh lễ: cõi An Lạc phương tây, đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát
Đại từ đại bi vô biên khắp pháp giới Bồ Tát ( 1 lạy )
* 10 * Chí Tâm đảnh lễ: Nam Mô cõi An Lạc phương tây Thanh Tịnh Đại Hải chúng Bồ Tát
Thân hai tướng trang nghiêm Phước Trí khắp pháp giới thánh chúng ( 1 lạy )
* 11 * Chí Tâm đảnh lễ: Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới
Đại Từ Đại Bi tiếp dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật ( 1 lạy )
Hôm nay có đệ tử …..pháp danh…tuổi….ở đâu?.....
Phát nguyện vãng sanh tây phương Cực Lạc, một lòng phát tâm bồ đề, một lòng quy mạng đức A Di Đà Phật từ bi tiếp độ đệ tử….được giải hết oan thiêng trái chủ.
Đệ tử hãy lắng nghe Phật nói rằng : Đời người ở thế gian nầy là biển khổ mênh mông, không bờ không bến, chuyện nhỏ nhất là chuyện của gia đình, quyến thuộc họ hàng, chuyện lớn nữa là quốc gia dân tộc, đều không ngoài báo ân, báo oán, đòi nợ, trã nợ, do bốn thứ duyên nầy mà tương hợp, hà huống tập khí và nghiệp chướng của chúng sanh sâu nặng, sống thiếu ân nghĩa, bố thí đức huệ thì ít, kết oán thì nhiều, do đó mà luân hồi trong lục đạo từ vô lượng kiếp đến nay, để oan gia tương báo, khổ không kể xiết, chúng ta có nhiều căn lành, nhiều đời vun trồng thiện căn, nên nay được gặp chánh pháp, cho nên một lòng quy y Tam Bảo, nghe lời Phật dạy đoạn ác tu thiện.
Chúng đẳng oan gia trái chủ và đệ tử….hãy lắng nghe lời Phật dạy, tất cả các pháp là vô sở hữu, tất kính không, bất khả đắc, cho nên phải trừ hết tất cả, những oán kết của những gì đã qua.nhất là những kẽ oan thù của ta, khi họ bị suy yếu bệnh khổ, chúng ta hãy xã bỏ thù xưa, giữ tâm ý tốt hộ trì giúp đỡ họ, lấy ân báo oán, biến oán thành thân, dù sống trong biển nghiệp mênh mông, chúng ta đã bước lên con đường giải thoát quang minh rộng lớn, để lìa khổ được vui, nguyện thường nghe kinh niệm phật không gián đoạn, nhất tâm cầu vãng sanh về Cực Lạc Quốc,tốt nhất là được Chư Phật hộ niệm viên mãn vô thượng Bồ Đề, duy nguyện Chư Vị Oan thiêng trái chủ với ai?...hãy lắng nghe và y giáo phụng hành.
Hởi tất cả địa chủ trong đất nầy và khu vực nầy, và tất cả chư vị quỷ thần chúng:
Hãy lắng nghe Phật dạy rằng: Nhứt thiết chúng sanh bổn lai thành Phật, nhưng vì vọng tưởng chấp trước mà không được chứng đắc, chúng ta ngày nay gặp được chánh pháp, nên chí thành quy y Tam Bảo, tuân theo giáo pháp của PHật, sám trừ nghiệp tội, nổ lực tu hành. Nếu như tùy thuận theo tham sân si phiền não, tạo ác quấy phá, thì thật là đáng tiếc, đối với những người bệnh khổ, suy yếu của nhân gian, cần phải từ bi hộ niệm, chớ nên quấy phá khiến họ bất an, quý vị nên nhớ: nếu chúng sanh không có các đấng thiêng liêng siêu hình ( Phật, Trời, Tiên, Thánh, Thần, Người, và vạn vật các cõi ) nói chung là Đạo Pháp thì Biển nghiệp mênh mông, sẽ không bao giờ thoát ly, Thiện ác báo ứng như hình với bóng, luân hồi do nghiệp lực dẫn dắt, hôm nay chư vị tuy là đọa ác đạo, nhưng vẫn có thể nắm bắt cơ duyên nghe kinh niệm Phật, tích công lũy đức, lấy tâm yêu thương chân thành, hóa giải vô lượng oán thù, hộ trì chánh pháp, nhất tâm cầu sanh về Tây phương Cực Lạc của Ngài A Di Đà Phật trang nghiêm. Đây là nhân duyên trăm ngàn muôn kiếp khó gặp được, duy nguyện chư vị luôn hiểu biết điều nầy để y giáo phụng hành.
Hỡi các chư vị Thánh thần, quỷ thần chúng và những oan thiêng trái chủ từ vô thỉ kiếp hãy lắng nghe đây: Mười phương chư Phật thì A Di Đà là đệ nhất, cửu phẩm độ chúng sanh, oai đức vô cùng cực, nguyện cùng quy y, sám hối tội chướng, phàm được bao nhiêu phước thiện, chí tâm hồi hướng, nguyện cùng người niệm Phật, cảm ứng tùy thời hiện, kiến văn Phật tinh tấn, đồng sanh cực lạc quốc, kiến PHật ngộ đạo pháp, chuyển ác thành thiện duyên, chuyển mê thành ngộ đạo, chuye63noan1 thành nhơn duyên, nguyện cùng làm pháp lữ, để cùng nhau chuyển biển nghiệp thành biển Liên Trì Cực Lạc, Chư Phật Đạo độ sanh. Duy nguyện ngã thỉ kiếp, chư vị Oan Thiêng trái chủ nghe Pháp mầu nầy, mà tín thọ phụng hành. Khâm thử. Đốt sắc lệnh của Phật Hoàng. Trong khi đốt sắc lệnh thì đọc bài sám:
Một lòng mỏi mệt không nài, 
Cầu về Cực lạc ngồi đài liên hoa, 
Cha lành vốn thiệt Di Đà, 
Soi hào quang tịnh chói lòa thân con. 
Thẩm sâu ơn Phật hằng còn, 
Con nay chánh niệm lòng son một bề, 
Nguyện làm nên đạo Bồ đề,
Chuyên lòng niệm Phật cầu về Tây Phương
Phật xưa lời thệ tỏ tường, 
Bốn mươi tám nguyện dẫn đường chúng sanh,
Thề rằng ai phát lòng lành, 
Nước ta báu vật để dành các ngươi.
Thiện nam tín nữ mỗi người,
Chí thành tưởng Phật niệm mười tiếng ra, 
Ta không rước ở nước ta, 
Thệ không làm Phật chắc là không sai.
 Bởi vì tin tưởng Như Lai, 
Có duyên tưởng Phật sống dai vô cùng.
Lời thề biển rộng mênh mông, 
Nhờ nương đức Phật thoát vòng trần lao. 
Tội mòn như đá mài dao, 
Phước lành thêm lớn càng cao càng dày.
Cầu cho con thác biết ngày, 
Biết giờ, biết khắc biết rày tánh linh. 
Cầu cho bịnh khổ khỏi mình, 
Lòng không tríu mến chuyện tình thế gian.
Cầu cho thần thức nhẹ nhàng,
In như thiền định họ Bàng thuở xưa. 
Đài vàng tay Phật bưng chờ,
Các ông Bồ Tát bây giờ đứng trông.
Rước con thiệt đã nên đông, 
Nội trong giây phút thảy đồng về Tây. 
Xem trong cõi Phật tốt thay, 
Hoa sen đua nở tánh nay sạch trần. 
Hội nầy thấy Phật chơn thân, 
Đặng nghe pháp nhiệm tâm thần sáng trưng. 
Quyết tu độ chúng phàm nhân,
Đủ lời thệ nguyện Phật ân rộng dài, 
Phật thệ chắc thật không sai. 
Cầu về Tịnh độ ai ai tin lòng, 
Nguyện về Tịnh độ một nhà, 
Hoa sen chín phẩm là cha mẹ mình. 
Hoa nở rồi biết tánh linh, 
Các ông Bồ Tát bạn lành với ta.
Nguyện đem công đức ấy ra
Cầu cho cả thảy ta và chúng sanh
Nhứt thừa vô thượng viên thành
Đều nên Phật Đạo về thành Lạc Bang…

Nguyện A Di Đà Phật
Nhứt tâm quy mạng
Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật
Nguyện dĩ tịnh quang chiếu ngã
Từ thệ nhiếp ngã
Ngã kim chánh niệm
Xưng Như Lai danh
Vị Bồ Đề Đạo
Cầu Sanh Cực Lạc
Phật tích bổn thệ
Nhược hữu chúng sanh
Dục sanh ngã quốc
Chí tâm tín nhạo
Xưng ngã danh hiệu
Nãi chí thập niệm
Nhược bất sanh giã
Bất thủ chánh giác
Dĩ thử: Niệm Phật nhân duyên
Đắc nhập như lai
Đệ thệ hải trung
Thừa Phật từ lực
Chúng tội tiêu diệt
Thiện căn tăng trưởng
Nhược lâm mạng chung
Dự tri thời chí
Thân vô bệnh khổ
Tâm bất tham luyến
Ý bất điên đảo
Như nhập thiền định
Phật cập thánh chúng
Thủ chấp kim đài
Lai nginh tiếp ngã
Ư nhứt niệm khoảnh
Sanh Cực Lạc Quốc
Hoa khai kiến Phật
Tức văn Phật thừa
Đốn khai Phật huệ
Quảng Độ chúng sanh
Mãn Bồ Đề nguyện.
Tất cả chư Thiên
Thính Pháp nghe kinh
Y giáo phụng hành
Y lệnh Khâm thử…( đốt sắc lệnh của Phật Hoàng )
Thiên A Tu La Dược Xoa đẳng
Lai thính Pháp giả ưng chí tâm
Ủng hộ Phật Pháp sử trường tồn
Các các cần hành Thế Tôn giáo
Chư hữu Thính Đồ lai chí thữ
Hoặc tại địa thượng hoặc cư không
Thường ư nhơn thế khởi từ tâm
Cứu dạ tự thân y pháp tự
Nguyện chư thế giới thường an ổn
Vô biên Phước trí ích quần sanh
Sở hữu tội nghiệp tận tiêu trừ
Viễn ly chúng khổ quy viên tịch
Hằng dùng giới hương đồ vĩnh thể
Thường trì định phục dĩ tư thân
Bồ Đề diệu Pháp biến trang nghiêm
Tùy sở trụ xứ thường an lạc
Nam Mô Tam Châu cảm ứng hộ pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát ( 3 lần )
Và bắt đầu chúng ta ngồi xuống Niệm Phật
Muốn cuộc cầu hồn khi hấp hối được hiệu quả, điều cần nhứt thân nhân của người bịnh phải làm sao tạo được một môi trường yên tĩnh, đừng nên khóc lóc, kéo níu thân thể người bịnh, và khéo léo đừng để bạn bè, họ hàng đến thăm hỏi vì lúc ấy cơ thể người đang hấp hối vô cùng đau đớn, trí não mịt mờ, tinh thần bấn loạn. Có như vậy, người bịnh mới giữ được sự tỉnh táo để nhiếp tâm hướng về Chư Phật mà ăn năn, sám hối và cầu nguyện ban cho Linh hồn được nhẹ nhàng, dễ siêu thoát.
Trong thời khắc đang hấp hối nếu người bịnh vì quá mỏi mệt, hôn trầm thì thân nhân nên nhắc nhở vào bên tai người bịnh bằng cách niệm câu thần chú Thầy đã ghi ở trên, giúp họ tỉnh lại để cùng nhứt tâm niệm Phật. Nếu như người bịnh vì tình cảm luyến ái gia đình hay nuối tiếc tài sản thế gian thì thân nhân nên khéo léo khuyên người đang hấp hối phải buông bỏ tất cả mới có thể vãng sanh thoát tử được. Còn như lưu luyến cảnh thế gian thì sẽ mãi mãi đi vào đường khổ não, không bao giờ thoát ra được. Đây là phút giây quan trọng và khẩn cấp nhứt của cuộc đời. Có được siêu thoát hay không? Chính là do người đang hấp hối biết chí thành tin tưởngChư Phật mà hướng niệm để được tiếp dẫn về cõi Cực Lạc.
Nếu trong khi tụng niệm Phật mà người bệnh tắt hơi (Tức đã chết) thì chúng ta làm pháp sự tiếp tục, nếu thân thể biết ngày giờ chết còn tỉnh táo, thì chúng ta hộ niệm từ 8 đến 12 tiếng. nếu vì bệnh úng thúi ( Ung thư, hay những bệnh nan y, chết sông, xe đụng hay những chứng bất thường thì chúng ta coi tẩn liệm sớm để bớt ô nhiễm môi trường )
Thầy chỉ truyền trực tiếp không truyền qua giấy bút. Quý vị hoan hỷ.
Qua câu chuyện thầy tiết lộ ở trên, thầy khuyên quý vị cố gắng tạo Phước Điền ở ngay chính bản thân mình, tự bóc gạo giải nghiệp và tạo phước điền, đừng để ăn trúng gạo của các vị Cao Tăng sẽ bị cháy tiêu hồn vì điện giải nghiệp quá mạnh ( thí dụ: dây điện của mình tải được phi 30 mà nhận điện cao thế vào sẽ bị cháy,) hãy cố gắng công phu thật tinh tấn quan tâm và hy sinh tạo phước cho mình vì chúng sanh, rồi đến Tam Bảo của Chùa, thì Chư Tôn Đức Phật, Chư Tôn Đức Pháp, Chư Tôn Đức Tăng Ni mới hãnh diện với công đức của quý vị.
Kính mong hồng ân Tam Bảo Mười Phương Chư Phật gia hộ cho quý vị Thân Tâm An Lạc, Kiết Tường Như Ý. Đạt được Phẩm vị cao nhất, để trên thành Phật Đạo dưới độ chúng sanh.
Nam Mô A Di Đà Phật giáng lâm Chứng Minh
XÃ HỘI KHOA HỌC PHẬT GIÁO DỤC
Đạo Pháp – Dân Tộc – An Lạc
Vương Quốc Vạn An
Liên Tông Cửu Long Kim Pháp
Đạo Giáo Thiên Đồng
Phật Hoàng Trần An
Gia Tộc Vua Trần
Tác giả: MẬT ẤN TỊNH THỌ
( Geshe Rinpoche: Thích Quảng An )